Báo lỗi

Các Học Thuyết Tâm Lý Nhân Cách

Chương 27.9 (Cập nhật lúc: 13:03 13/12/2017)
Chọn màu nền
Chữ L

Lasting desire
: Nhục cảm vĩnh cửu. Đây là khái niệm giải thích vì sao chúng ta muốn có những đam mê đi tìm khoái lạc, hạnh phúc, tình yêu nhất là khi chúng ta muốn những giá trị nhục cảm này càng kéo dài càng tốt. Đây là một khái niệm trong Kinh Phật.
Latent religiousness
: Giá trị tôn giáo ngủ đông. Theo Frankl, ông luôn tin rằng giá trị tôn giáo luôn được cài đặt sẵn bên trong mỗi chúng ta. Vì thế dù là người tin theo một tín ngưỡng hay không, bên trong chúng ta luôn chứa đựng những giá trị thần học. Khi có điền kiện thích hợp, các giá trị tôn giáo ngủ đông này sẽ được đánh thức.
Latent stage
: Giai đoạn tĩnh lặng. Theo Freud thì đây là giai đoạn phát triển khi các em thiếu nhi tập trung vào các thao tác kỹ năng ở trường học và các tiêu điểm tập trung vào các bộ phận sinh dục đã không được chú ý đến.
Laws of nature
: Các hệ thống luật tự nhiên. Đây là khái niệm cho rằng vũ trụ và thế giới tự nhiên có những vận hành riêng của chúng. Và theo luật tự nhiên thì nhiều hiện tượng được chấp nhận một cách hiển nhiên.
Learned
: Học tập được. Đây là trạng thái một lượng kiến thức hoặc các dữ kiện được lưu trữ trong bộ nhớ của chúng ta chính là do quá trình học hỏi. Nói khác đi đây chính là hình thức kinh nghiệm thu thập được qua quá trình học tập.
Learning theory
: Thuyết học tập. Đây là một trường phái tâm lý nhân cách cho rằng chúng ta hình thành nhân cách của mình thông qua quá trình học hỏi. Vì thế nhân cách thật ra chính là sản phẩm của quá trình học hỏi.
Leaning type
: Tuýp người dựa dẫm. Theo nhiều nhà tâm lý nhân cách thì đây là tuýp người không có những quyết định độc lập. Họ thường cậy nhờ dựa dẫm và lệ thuộc vào người khác trong việc tạo ra những quyết định cho riêng mình.
Let things go
: Buông thả những điều tiêu cực. Đây là một khái niệm trong liệu pháp tâm lý. Rất nhiều các nan đề tâm lý xảy ra vì chúng ta ôm đồm quá nhiều, cuối cùng khả năng sức chứa và khả năng điều tiết của chúng ta giảm dần. Vì thế để giúp cho tâm hồn được thanh thản, chúng ta cần buông thả những điều tiêu cực hoặc những điều không cần thiết.
Liberals
: Nhóm tự đo. Đây là những cá nhân có xu hướng tự do. Họ không nhìn nhận những giá trị truyền thống. Theo họ thì các lý luận luôn đi theo thời gian và chịu ảnh hưởng của các tác động tức thời của bối cảnh sống hiện tại. Họ cổ xúy thay đổi và không chấp nhận những giá trị truyền thống một cách cứng nhắc.
Libido
: Xung lực dục năng. Đây là khái niệm mô tả về các nguồn năng lượng nội tại giúp các sinh thể có những hứng thú đặc biệt về những mảng đời sống thiên về sinh lý. Không có xung lực dục năng thường được coi là ảnh hưởng của tâm lý có những nan đề đã tác động lên quá trình tạo ra xung lực dục năng này.
Life force
: Khái niệm lực đẩy cuộc sống. Đây là khái niệm mà Goldstein và Rogers đã sử dụng trong quá trình giải thích tại sao chúng ta có những động cơ và khát khao vươn lên để hoàn thiện. Đây là khái niệm nhận thấy rõ nhất ở những người có tinh thần mến yêu cuộc sống.
Life instinct
: Bản năng ham sống. Đây là khái niệm được Freud giới thiệu lần đầu tiên với cơ sở lý luận rằng những khoái cảm lạc thú chính là động cơ điều khiển vận hành đời sống của chúng ta.
Life is hard:
Cuộc sống thật khắc nghiệt. Các nhà hiện sinh học luôn cho rằng cuộc sống thật khắc nghiệt. Cái nhìn của họ có vẻ bi quan yếm thế vì thế họ khuyến cáo chúng ta nên giành thời gian để xử lý các nan đề trong hoàn cảnh hiện tại trước mắt.
Life is suffering
: Đời sống là bể khổ. Đời sống là một chuỗi những đau khổ và đau khổ là một thực trạng không thể tránh khỏi. Đây là một bộ phận quan trọng trong triết lý của Phật giáo. Tuy nhiên tôn giáo này đề nghị rằng chúng ta có thể vượt qua những đau khổ này bằng cách tự gạt bỏ những đam mê, dục vọng, và những tư tưởng tiêu cực phù phiếm.
Lifestyle
: Lối sống. Đây là khái niệm được nhắc đến khá nhiều trong triết lý của Adler. Ông tin rằng lối sống của chúng ta có ảnh hưởng đến nhân cách của chúng ta. Vì thế để thăng tiến và phát triển lành mạnh, chúng ta cần có một lối sống khỏe mạnh và tích cực.
Light of dasein
: Ánh sáng hiện thân. Theo các nhà tâm lý hiện sinh thì ý nghĩa cuộc sống sẽ tự thân chúng tỏa sáng. Họ khuyến cáo chúng ta không nên tập trung vào một điểm gò bó. Tại sao chúng ta không để ánh sáng hiện thân được tỏa sáng tự do. Đấy là quan điểm trong triết lý của họ.
Limited resources
: Nguồn cung cấp giới hạn. Đây là khái niệm được giới thiệu bởi các nhà tâm lý xã hội học. Trong đó những ứng xử của chúng ta mang tính cạnh tranh vì chúng ta có nhu cầu bảo đảm đời sống vật chất. Nhất là khi cuộc sống luôn có những dao động biến đổi. Vì thế tích lũy đã trở thành một bộ phận tâm thức của chúng ta.
Literally
: Hiểu theo nghĩa đen. Trong tâm lý học, nhất là tâm lý học nhân cách, nhiều khái niệm được ví von vào những ví dụ thực tế; nhằm vận dụng để giải thích các hiện tượng trừu tượng phức tạp. Vì thế khi học tập và tìm hiểu tâm lý nhân cách, chúng ta rất cần tránh chỉ hiểu theo nghĩa đen mà thôi.
Lichtung
: Mở rộng khoảng trống. Nhà triết học Đức Heidegger cho rằng da-sein là quá trình mở rộng mình ra, giống như một cánh đồng cỏ (meadow), một khoảng mở trống bao bọc bởi những cánh rừng rậm. Như thế da-sein cho phép thế giới được phô bày bản chất thực của nó. Mở rộng khoảng trống là tìm thấy mình giữa một thế giới sống động nhưng đầy bí hiểm. Nói khác đi chúng ta có thể hiểu về vũ trụ khi chúng ta hiểu được chính mình.
Lived world
: Thế giới thực. Đây là khái niệm một cá nhân đã trải qua đời sống của mình với những kinh nghiệm thực tế. Một thân chủ sống cuộc đời thật (lived world) trong những phạm trù cụ thể hàng ngày. Nói chung đây là trạng thái chúng ta không từ bỏ khảo sát bất cứ một cơ hội kinh nghiệm nào trong cuộc sống.
Liver:
Gan. Đây là một bộ phận quan trọng trong cơ thể chúng ta. Gan tiết ra thêm insulin nhanh chóng giải phóng lượng đường glucose để cơ thể có thêm năng lượng, nhất là khi cơ thể cần có thêm những nguồn năng lượng để đối phó với các nan đề nguy hiểm có tính đe dọa.
Locked away
: Đóng chặt cõi lòng. Chúng ta thật ra không đóng chặt như nhiều nhà hiện sinh đã tin như thể: Binswanger cho rằng đây là khả năng tiềm tàng trong mỗi cá nhân, đối chiếu với da–sein, khả năng này được hiểu là hiện diện ngay bên ngoài thế giới của mình. Chúng ta hiện diện trong thế giới này, khi ngoảnh mặt đi chúng ta vẫn không thể nào né tránh được thế giới. Thành ra thế giới bên ngoài và thế giới bên trong luôn có những liên hệ ở những cấp độ khác nhau.
Logical
: Có logic. Đây là khái niệm cho thấy nhận thức và ý thức của chúng ta luôn có nhu cầu các dữ kiện mới phải có tính thuyết phục trước khi chúng được lưu trữ. Ngay cả những tư tưởng mâu thuẫn vẫn phải đạt được một số tính năng lôgic tối thiểu nào đó. Trong nghiên cứu, quá trình phân tích các dữ kiện cần phải đạt tính hợp lý của chúng.
Logotherapy
: Liệu pháp đi tìm ý nghĩa cuộc sống. Theo Frankl thì khái niệm ý chí đi tìm ý nghĩa cuộc đời chính là một bộ phận quan trọng trong liệu pháp của ông. Nói khác đi, không tìm ra ý nghĩa của cuộc đời chúng ta sẽ khó xác định được một phương hướng xứ lý các nan đề cũng như điều tiết cuộc đời của mình. Logotherapy, từ Tiếng Hy–lạp, logos có các nghĩa sau: học tập (study) từ ngữ (word), Ngôi Lời (The Word), tinh thần (sprit), Thượng Đế (God), hoặc có ý nghĩa (meaning). Với Frankl, ông chọn nghĩa sau cùng: Có ý Nghĩa.
Looking–glass self
: Nhìn qua khung kiếng. Đây là hiện tượng bản thân nhìn qua tấm kiếng. Đây vốn là bản thân mà một cá nhân tin rằng người khác nhìn thấy nơi con người của họ. Nhìn qua khung kiếng chính là lối chúng ta suy diễn cho rằng người khác đang đánh giá chúng ta.
Loose construction
: Cấu trúc lỏng. Theo George Kelly, chúng ta sử dụng cấu trúc lỏng khi chúng ta mơ mộng hay đi vào những vùng tưởng tượng. Đây là một chức năng quan trọng cho các nhà sáng tạo. Họ có được những ý tưởng phong phú chính vì họ có nhiều cấu trúc tư duy lỏng so với những con người bình thường khác.
Loss of humor
: Mất hẳn đi tính hài hước của mình. Đây là khái niệm do quá căng thẳng nên chúng ta đã đánh mất nhiều cơ hội vui vẻ cởi mở với chính mình và với người khác. Theo nhiều nhà tâm lý thì tính hài hước là một bộ phận quan trọng vì đây là kênh cảm giác cho chúng ta những nguồn năng lượng lạc quan.
Low therapeutic results
: Hiệu quả trị liệu rất thấp. Đây là hiện tượng xảy ra khi thân chủ thiếu cộng tác, không có tự tin vào nhà liệu pháp, kế hoạch điều trị không được xác định, kênh đối thoại thiếu tính mạch lạc cụ thể, khả năng chuyên môn của nhà liệu pháp thấp, hoặc phong cách của nhà liệu pháp và thân chủ không phù hợp.
Love
: tình yêu. Theo Fromm, sáng tạo chính là một kênh diễn đạt của tình yêu. Ông cho rằng tình yêu là trạng thái tự nguyện, đam mê, vùi mình vào những giá trị thật sự có ý nghĩa với bản thân mình nhiều nhất. Vì thế sáng tạo chính là tình yêu. Và ngược lại khi thật sự yêu chúng ta trở nên những cá nhân đầy sáng tạo.
Ludwig Binswanger
(1881 – 1966): Ông là một nhà học thuyết nhân cách hiện sinh.
Chữ M
Magnetic resonance imaging MRI
: Đọc và quan sát hình ảnh qua kỹ thuật nội soi âm từ. Đây là kỹ thuật ứng dụng trong trị liệu và nghiên cứu các hoạt động của não nhằm hiểu rõ thêm cách vận hành của não.
Magneroencephaography MEG
: Máy đọc và ghi biểu đồ não. Đây là một kỹ thuật có thể nghiên cứu về các hoạt động của não ứng dụng trong nghiên cứu và trị liệu.
Mahasangha
: Phật giáo Đại thừa. Đây là nhánh Phật giáo chú trọng nhiều đến tinh thần nhân văn và chủ trương sống vì tha nhân.
Mainstream
: Dòng chảy tâm lý chung. Đây là khái niệm chỉ về những hiện tượng bình thường phổ biến, nơi tập trung của những tư tưởng được đông đảo công nhận. Khái niệm dòng chảy chung còn bao hàm những hiện tượng chung áp dụng với đại đa số bình thường.
Maladaptive habits
: Thói quen thích ứng sai lệch. Đây là khái niệm cho thấy nhiều cá nhân đã chọn lựa những lối tiếp cận thích ứng với môi trường qua những kênh thiếu lành mạnh. Ví dụ như mượn rượu để giải quyết các xung đột gia đình. Uống rượu để thôi không còn gây gỗ với vợ con. Tuy giải quyết được một nan đề nhưng lại vướng vào một nan đề khác.
Malignancy
: Hành vi độc hại. Đây là khái niệm cho thấy những hành vi độc hại gây ra cho bản thân mình và cho người khác. Đây thường là những hành vi cố ý trục lợi và vi phạm các giá trị công bằng. Người gây ra hành vi có thể cố ý hoặc do thiếu khả năng nhận thức cần thiết.
Maladaptations
: Hành vi thích ứng thiếu lành mạnh. Những lối tiếp cận thiếu tinh thần chủ động, lảng tránh, co cụm, thiếu tinh thần xây dựng, ích kỷ và coi thường những giá trị tinh thần. Không có khả năng tự trọng và tôn trọng người khác. Thiếu khả năng nhận ra những nét đẹp trong sáng trong cuộc sống.
Making up
: Những lời giải thích nhào nặn. Đây là một trong những kỹ năng nhằm giải thích những khái niệm tư tưởng mới lạ đối với chúng ta.
Manas
: Mạt na là bộ phận có chức năng lý luận của con người rất gần với bản ngã hay cái tôi - ego. Đây là một khái niệm trong Phật giáo.
Mandala
: Hình trang trí có nhiều họa tiết làm thành một vòng tròn. Đây là một mô hình của cấu trúc hệ tâm thức được Carl Jung giới thiệu. Theo mô hình này thì những tư tưởng có khuynh hướng chu kỳ, lập đi lập lại, tạo ra thế cân bằng cần thiết và chứa đựng những khỏan năng lượng riêng trong các hình vẽ này.
Manipulate those symbols
: Điếu tiết, tổ chức, và sắp xếp các biểu tượng. Piaget cho biết trẻ em có khả năng điều tiết, tổ chức, và sắp xếp những biểu tượng này một cách hợp lý. Ở một độ tuổi thích hợp khi bắt đầu khả năng học tập, khi được xem hình con chó lớn và con chó bé, trẻ sẽ có liên tưởng con chó lớn sẽ khỏe hơn con chó bé. Đây là một dạng điều tiết và sắp xếp ý nghĩa các biểu tượng.
Mana archetype
: Nguyên mẫu năng lực siêu nhiên. Carl Jung đã giới thiệu khái niệm này. Theo ông thì trong tâm thức của toàn nhân loại luôn chứa đựng một giá trị thần học khi chúng ta nghĩ về một nguồn năng lực siêu nhiên, một dạng thức của Đấng tạo hóa hay một Thượng đế.
Manic states
: Trạng thái quá khích. Đây là trạng thái khi hệ tâm thức rơi vào tình trạng hỗn độn, năng lượng dâng lên ở một mức rất cao, tác động lên các bộ phận cấu trúc của hệ tâm thức và phá vỡ sự cân bằng của hệ tâm thức. Nói theo ngôn ngữ bình dân thì đây là tình trạng nổi cơn điên.
Manipulate
: Điều khiển. Theo Piaget con người có thể điều khiển được. Ngoài ra nơi con người, một số thường có xu hướng muốn được điều khiển những người chung quanh khác.
Make sense
: Thuyết phục. Nhiều dữ kiện và sự kiện trong cuộc sống được chúng ta tiếp cận mang nhiều nội dung và ý nghĩa khác nhau. Tuy nhiên không phải sự kiện và dữ kiện nào cũng thuyết phục. Vì thế hệ tâm thức của chúng ta luôn trong tình trạng phân tích và phán đoán để tìm ra những giải thích cho những dữ kiện và các sự kiện này.
Marketing orientation
: Xu hướng tiếp thị. Là nhóm người có khuynh hướng muốn thổi phồng về bản thân. Họ là những nhân cách muốn thu hút sự chú ý của người khác về bản thân của mình. Với họ cuộc sống thường chỉ có ý nghĩa khi họ đạt được vị trí trung tâm được người khác chú ý đến.
Marxism
: Chủ nghĩa Mác. Đây là một chủ thuyết có nhiều giá trị ứng dụng trong trong xã hội học và tâm lý xã hội học. Đây là chủ thuyết có nội dung xây dựng một xã hội công bằng lý tưởng khi quyền lợi và nghĩa vụ của mọi người được bảo đảm.
Masculine protest
: Trọng nam khinh nữ. Ban đầu Alder coi trọng phái nam nhưng sau đó ông tin rằng tất cả các em gái rất cần được tôn trọng và đối xử công bằng.
Mask
: Mặt nạ. Đây là một khái niệm được Carl Jung giới thiệu. Theo ông thì để bảo vệ cái tôi của mình, nhiều người trong chúng ta sử dụng những mặt nạ trong quá trình tiếp cận với người khác. Nhìn chung thì mặt nạ cho phép họ thiết kế một nhân định giả vốn không giống với con người thật của họ.
Masochism
: Khổ dâm. Đây là một hiện tượng được so sánh cho thấy có nhiều cá nhân sẵn lòng chấp nhận để cho người khác khai thác, bóc lột và sử dụng họ. Hiện tượng khổ dâm là một hiện tượng khi một cá nhân cho phép người khác gây đau đớn, lăng mạ hoặc nặng lời trong quá trình thao tác các hoạt động tình dục. Trong tâm lý đây là một lối so sánh cho thấy một số cá nhân tự mình cho phép người khác đối xử thiếu công bằng với họ.
Mass media
: Phương tiện truyền thông đại chúng. Theo các nhà tâm lý học xã hội thì phương tiện truyền thống đại chúng đang có những tác động rất lớn đến quá trình hình thành nhân cách của chúng ta. Nhất là khi các phương tiện này đang tạo ra những thế hệ công dân có những tư duy dựa trên nền tảng vật chất và những xu hướng nhân cách đặt nặng về hình thức, tranh đua nhiều hơn, và mất hẳn đi tính sáng tạo ở cấp vi mô nơi từng cá nhân.
Mass movement
: Những trào lưu xã hội rộng lớn. Đây là những hiện tượng một tư tưởng có cường độ mạnh đủ để tạo ra một làn sóng tư tưởng. Chẳng hạn như chủ nghĩa phát xít, ý tưởng khủng bố, quyền tự do phá thai, quyền tự do đồng tính luyến ái, và những chủ thuyết tự do đột phá vào các giá trị tinh thần truyền thống.
Mass neurotic triad
: Bộ ba bệnh lý thần kinh công cộng. Frankl tin rằng trầm uất, nghiện ngập, và có thái độ hằn học là bộ ba tạo nên bệnh lý thần kinh công cộng. Vì ba trạng thái hành vi này luôn có những liên hệ lôi kéo nhau.
Mass society
: Xã hội rộng lớn, vĩ mô. Đây là xã hội lớn hơn cộng đồng nhỏ hẹp môi trường sống trực tiếp của chúng ta. Nhờ vào phương tiện truyền thống đại chúng mà chúng ta càng ngày càng trở nên tiếp cận gần hơn với tất cả mọi thành phần khác trong cuộc sống.
Masturbation
: Thủ dâm. Theo Frankl, trong đời sống tình dục, không có tình yêu, quá trình giao hợp sẽ không khác gì là tình trạng thủ dâm. Trong tâm lý, đây là trạng thái tự cung cấp kích thích cần thiết để tạo ra hiệu ứng thỏa mãn khoái cảm dẫn đến những cực điểm cao trào. Hiện nay trong nhiều liệu pháp, thủ dâm được khuyến khích như một phương pháp van xả, giúp cân bằng đời sống sinh tâm lý.
Mate
: Bạn tình. Trong bối cảnh sinh tồn và tiếp tục duy trì hệ gien của mình, chọn lựa bạn tình là một quá trình diễn ra đòi hỏi kỹ năng gây hấn cạnh tranh lớn nhất trong các loài động vật. Bản năng này được truyền lại cho con người. Nơi người, tuy không có những cuộc chạm trán nảy lửa nhưng chúng ta luôn có những chiến lược đôi khi gay gắt trong việc chọn lựa bạn tình. Điều này đã có những ảnh hưởng nhất định lên nhân cách của chúng ta.
Material
: Vật chất. Đây là một bộ phận mang tính khách quan. Bộ phận vật chất thật ra không khiến cho não thức chúng ta bối rối khó xử. Chính nhận thức của chúng ta đã khiến cho vật chất trở thành có giá trị và có khả năng tác động lên tư duy của chúng ta. Vật chất là một bộ phận độc lập với cõi cõi ý thức của chúng ta nhưng vì thế đã có tác động lên chúng ta.
Matter vs. Spirit
: Vật chất. Đây là hai khái niệm cho rằng chúng ta tồn tại như một bộ phận luôn chịu tác động của thế giới vật chất và thế giới tinh thần. Tuy nhiên mức độ ảnh hưởng của hai thế giới này tác động lên mỗi chúng ta một cách rất khác nhau.
Maya
: Ảo ảnh. Carl Jung đã mượn khái niệm này trong kinh Phật. Những gì chúng ta nhìn thấy trong cuộc sống qua màu sắc và hình dáng của nó chỉ là ảo ảnh. Thật ra đây là một khái niệm rất có giá trị trị liệu. Chúng ta hiểu ra rằng mình không nên quá quan trọng vào cách đánh giá, nhất là những đánh giá chỉ dựa vào hình thức bên ngoài.
Mediatation
: Thiền. Đây là một các tập trung tư tưởng, thả lỏng thân xác, tập trung hướng đến những khu vực cấp cao hơn của cõi ý thức; hoặc kể cả những hiện tượng bán tâm lý. Thiền hiện nay được coi là một liệu pháp vì tính năng giảm thiểu căng thẳng và giúp ổn định lại nguồn nội lực, giúp sắp xếp các khung tư duy để đạt được tình trạng trật tự và cân bằng.
Means vs. Ends
: Phương tiện và mục đích. Đây là khái niệm được nhiều thế hệ bàn cãi. Họ luôn cố gắng tìm hiểu xem giữa phương tiện và mục đích xem điều nào quan trọng hơn. Ví dụ như ăn trộm để nuôi trẻ nghèo. Ăn trộm là phương tiện. Nuôi trẻ nghèo là mục đích. Vậy chúng ta sẽ sử dụng phương tiện hay mục đích để biện hộ cho hành vi này.
Meaningless
: Vô nghĩa. Đây là hiện tượng trống trải không có một giá trị ý nghĩa nào. Theo nhiều nhà tâm lý khuyên rằng chúng ta đừng kỳ vọng nhiều để rồi ép mình trở thành người thất bại. Nhưng nếu đặt ra tiêu chuẩn thấp quá, chúng sẽ trở thành vô nghĩa.
Meaninglessness
: Trạng thái vô nghĩa trong cuộc sống. Đôi lúc chúng ta giật mình nhận ra mình đã sống trượt trên băng tần cuộc đời và không tìm thấy những giá trị tinh thần trong cuộc đời của mình. Nói khác đi đây là trạng thái khi chúng ta nhận thức sâu sắc rằng mình đã lãng phí cuộc đời của mình.
Meaning of life
: Khái niệm ý nghĩa cuộc sống. Đây là khái niệm cho rằng kinh nghiệm làm người là một kinh nghiệm rất tuyệt vời. Ý nghĩa cuộc sống luôn chất chứa trong nó những điều kỳ diệu, bình thường nhưng vĩ đại. Đây là khái niệm cho chúng ta biết rằng cuộc sống không tẻ nhạt nhàm chán khi chúng ta nhìn thấy màu sắc và âm thanh của nó. Cao hơn cả những sinh hoạt hàng ngày là những giá trị tiềm ẩn mà chúng ta cần nhìn bằng con mắt trưởng thành và tích cực.
Measurable
: Đo đạc được. Đây là khái niệm các đại lượng có thể đánh giá được. Trong bối cảnh thế giới hành vi của con người, chúng ta có thể đo đạc được giá trị, cường độ, ý nghĩa của những hành vi này dựa trên những trắc nghiệm. Khi có thể đo đạc được một hành vi chúng ta sẽ hiểu rõ hơn về cấu trúc của chúng. Ví dụ như trí thông minh, chúng ta có thể đo đạc được chúng và tìm ra được một chỉ số có giá trị tương đối.
Mechanicai reaction
: Cơ năng phản ứng. Theo Adler thì cơ năng phản ứng chính là cơ năng giúp chúng ta đánh giá một nan đề để có những phương hướng xử lý. Đôi lúc qua cơ năng phản ứng này mà chúng ta chợt vô tình phát hiện ra những chiều kích mới mẻ của cuộc sống. Đây là một cơ năng đôi lúc có thể không lành mạnh vì chúng thiếu sự kiểm soát của nhận thức.
Mechanism of gambling
: Chiến lược đánh bài. Đây là một cơ năng được sử dụng nơi thế giới hành vi của nơi người. Cơ năng cho thấy chúng ta đôi lúc mạo hiểm vào những khu vực xa lạ với hy vọng rằng mình sẽ tìm thấy những giá trị trước đây chúng ta chưa có. Đây là một cơ năng giúp khả năng sáng tạo của chúng ta có điều kiện cơ hội thể hiện và thể nghiệm.
Medard Boss
(1903 – 1990): Ông là một người được xếp vào danh sách những người có đóng góp tích cực cho học thuyết tâm lý nhân cách hiện sinh.
Medical doctor
: Bác sĩ y khoa. Đây là những nhà chuyện môn có kiến thức đặc biệt về các căn bệnh lâm sàng. Trong liệu pháp, các nhà tâm lý thường có những liên hệ với các bác sĩ y khoa để hiểu rõ hiện trạng thực tế của các thân chủ.
Medicine
: Ngành y khoa. Hay còn gọi là nghề thuốc. Đây là ngành học thiên về sinh học và hóa học. Khi tốt nghiệp họ sẽ đặc biệt chăm sóc sức khỏe và chữa bệnh.
Melt
: Tan chảy. Theo Carl Jung thì các nguyên mẫu trong hệ tâm thức của con người không hoạt động độc lập nhưng có những mức độ hòa quyện, tương tác, nhằm kiến tạo nên một hệ thống tâm thức phức tạp và toàn diện, hoàn chỉnh nơi con người.
Memories
: Hồi ức hay ký ức. Đây là tập hợp những ký ức của thời gian trong quá khứ. Trong tâm lý, hồi ức thường được nghĩ đến những kinh nghiệm trí nhớ của thời còn bé. Trong liệu pháp, hồi ức đặc biệt được đánh giá cao như một bộ phận quan trọng. Theo các nhà liệu pháp thì ký ức luôn có những liên hệ trực tiếp hay gián tiếp đến cách ứng xử hiện tại của các cá nhân.
Memory
: Trí nhớ. Đây là một bộ phận trong quá trình tư duy và học hỏi. Trí nhớ là một khái niệm khả năng lưu trữ dữ kiện. Trí nhớ góp phần quan trọng trong quá trình phán đoán và phân tích. Không có trí nhớ, chúng ta sẽ khó theo dõi và xác định được các khâu công đoạn trong quá trình tiếp xúc và xử lý.
Memory forming
: Quá trình hình thành trí nhớ. Não tập trung hàng tỷ tế bào thần kinh và quá trình tạo thành trí nhớ được coi là kết quả phản ứng của nhiều tổ hợp tế bào thần kinh. Thông tin được lưu trữ dưới dạng đơn vị. Nhiều tổ hợp liên kết sẽ ráp nối các đơn vị dữ kiện để tạo thành một ý tưởng các khái niệm, và những định nghĩa khác nhau.
Meningitis
: Bệnh viêm màng não. Đây là một căn bệnh nguy hiểm có thể gây ra tử vong. Bệnh do vi rút hoặc do vi khuẩn gây ra và khu vực nhiễm trùng xảy ra tại màng não.
Menopause
: Giai đoạn mãn kinh. Đây là hiện tượng khi người phụ nữ không còn chu kỳ kinh nguyệt và khả năng sinh con cũng mất theo. Đây là thời điểm tác động lên tâm lý của rất nhiều người vì cân bằng tuyến nội tiết đã giảm xuống. Ngoài ra nhiều yếu tố tâm lý tinh thần khác trực tiếp tác động lên tình trạng tâm lý của họ.
Mental health
: Sức khoẻ tâm thần. Theo Rogers sức khỏe tâm thần giống như những quá trình tiến bộ bình thường đạt được trong cuộc sống. Nói khác đi sức khỏe tâm thần là trạng thái cân bằng và các cá nhân có khả năng xử lý các dữ kiện trong cuộc sống một các có hiệu quả và họ là những cá nhân có tính chủ động cao.
Mental acts – samskara
: Hành vi tư tưởng, đặc biệt là sức mạnh của ý chí và sự tập trung cao độ. Đây là một khái niệm trong ngũ uẩn của Kinh Phật.
Mental images
: Chuỗi hình ảnh trong tâm thức. Đây là một khái niệm phổ biến đối với các nhà tâm lý theo trường phái thuyết học hỏi. Nhờ vào chuỗi hình ảnh trong tâm thức, chúng ta sẽ có thể sắp xếp và tổ chức các chuỗi sự kiện mới dựa trên chuỗi hình ảnh trong hệ tâm thức của mình.
Metaconsistencies
: Khái niệm tâm thức nhất quán khác. Lịch sử, xã hội, văn hóa luôn luôn là những đại lượng có ảnh hưởng nhất định lên mỗi chúng ta. Vì thế tâm thức luôn có những cách vận hành đặc biệt để tạo ra những sắp xếp nhất quán giữa các khu vực khác nhau hiện diện trong môi trường đời sống.
Metaneeds
: Nhu cầu tinh thần. Theo Maslow thì chúng ta là những sinh thể đặc biệt. Vì ngoài nhu cầu vật chất, chúng ta có rất nhiều những nhu cầu tinh thần và nhu cầu tình cảm khác. Theo ông nhu cầu vật chất có thể được thỏa mãn nhưng nhu cầu tinh thần là một nhu cầu liên tục và không bao giờ bão hòa.
Metapathologies
: Bệnh lý tinh thần. Theo Maslow thì nguyên nhân của các bệnh lý tâm thần có thể đến từ nhiều nguyên nhân khác nhau, nhất là khi các nhu cầu của cá nhân không được bảo đảm.
Metaphor
: So sánh ẩn dụ. Trong quá trình phân tích hiện sinh, nhiều khái niệm mang tính so sánh ẩn dụ được áp dụng để diễn đạt những tư tưởng chủ yếu trong thế giới tâm lý hiện sinh.
Metaphoricllay
: Mang tính ẩn dụ. Những giải thích và ý tưởng mang tính so sánh để giải thích các hiện tượng khó hiểu. Vì thế chúng cần được hiểu khác hơn với cách hiểu nghĩa đen bình thường.
Midlife crisis
: Khủng hoảng nửa đời người. Đây là một khái niệm được các nhà tâm lý cho rằng đây là giai đoạn những người bước vào tuổi 40s. Họ thường đặt ra những câu hỏi về ý nghĩa giá trị cuộc đời của mình. Nhất là khi các cá nhân này nhận ra mình đang xuống dốc về mặt sức khỏe và đối diện với cái chết đang đến gần.
Mời bạn thảo luận, vui lòng nhập Tiếng Việt có dấu
loadingĐang xử lý