PHẦN VI

ĐIỀU CHỈNH LẠI Ý NGHĨA

Viết trong tập Hồi ký Hàn Mặc Tử, anh tôi, xuất bản tháng 03/91, tôi có đi ngang qua vài nét về việc mất di cảo của Hàn. Việc này có liên quan đến ít nhiều với ông Quách Tấn, khi ông tuyên bố làm mất hết trong lúc chạy loạn. Vì vậy ba tháng sau đó khi tập hồi ký được phát hành, ông Tấn và con trai Quách Giao, lên tiếng giải thích việc mất thơ trong tạp chí Bách Khoa văn học số 6 tháng 6, đồng thời đưa ra nhiều chứng liệu biện minh cho sự cố.

Vì vậy, trước tình hình dư luận bàn tán sôi nổi, tôi vẫn lặng thinh không có thái độ tranh luận. Tôi tự biết vai vế của tôi chẳng có gì đáng kể trong khi bạn bè bà con, ông Tấn, đông đảo đang nhận diện tôi qua nhiều lăng kính méo mó để trở thành quái dị.

Tuy nhiên, dư luận và báo chí trong nước lại có dịp để khai thác sôi nổi hơn. Ông Quách Tấn, ông Trần Thanh Địch và tôi đều được hỏi ý kiến.

Tôi vốn tôn trọng sự thật, nên bị bắt buộc nói hết sự thật, những gì tôi đã biết, mà toàn là những chuyện không có gì vui vẻ cho ông Tấn và cho cả tôi nữa, đối với linh hồn Mẹ tôi.

Hôm nay viết lại tập “Hàn Mặc Tử trong riêng tư” này, tôi lại có ít nhiều mặc cảm khi bạn bè biết chuyện, cho rằng tôi còn cố chấp với ông Tấn chỉ vì ông lại xâm phạm những riêng tư của Hàn trong tập Đôi nét về Hàn Mặc Tử được phổ biến từ ba mươi năm nay, mà tôi có bổn phận đính chính.

Tôi nghĩ ông Tấn đã qua đời, trang sử đời tư của ông tôi đã đóng lại, nhưng trang sử văn học của ông cần phải chỉnh đốn lại cho đẹp bộ mặt lịch sử văn học đất nước mà ông đã đóng góp một phần không nhỏ.

Đó là bổn phận chung của tất cả mọi người yêu mến văn học đất nước.

Trong lời nói đầu tập sách, tôi đã nhắc lại, Hàn Mặc Tử rất trung thực, luôn luôn phản ánh những cảm nghĩ, những gì con tim anh tiết lộ không che giấu giiếm mục đích anh muốn nói gì, ngay ở đề tài bài thơ.

Trong phạm vi gói ghém bài này, tôi chỉ xin nói đến hai bài thơ quan trọng và có giá trị hơn hết của anh. Đó là Ave Maria và Ở đây thôn Vỹ Dạ, một bài thơ có giá trị tôn giáo, một bài có giá trị văn học.

*

1. BÀI AVE MARIA

Bài thơ này Hàn lấy ý trong kinh Kính mừng, một bài kinh mà suốt mấy năm trường, ngày đêm anh đọc không biết bao nhiêu lần, khi lần tràng hạt Mân Côi. Cho nên ý nghĩa bài kinh anh đã thuộc nhập tâm, không có thể định nghĩa trái đi được. Anh nói đây là kinh Kính mừng của riêng anh.

Ave Maria là lời chào mừng Bà Maria, khi sứ thần Gabriel đến báo tin Bà được Thiên Chúa cho làm mẹ Ngôi Hai ra đời.

Ave là tiếng latin cũng như tiếng Việt là Chào Mừng. Hàn Mặc Tử mở đầu bằng câu chúc tụng theo cung cách Á Đông:

Như song lộc triều nguyên ơn phước cả

Chữ Lộc ở đây có nghĩa là tài lộc ân sủng, nói chung là phước lộc. Song Lộc định nghĩa theo sách Đẩu số Trung Hoa, là Thiên Lộc và Hóa Lộc (Lộc trời đất) hiểu theo ân sủng của trời đất.

Chữ Triều là hướng về, chầu về

Chữ Nguyên là nguyên thể, bản thể

Câu chúc tụng này, Hàn muốn nói Ân phước Trời và Đất đổ xuống cho Bà. Câu mở đầu này rất sát nghĩa: Kính mừng Bà đầy ơn phước đã chứng minh:

Kính mừng Maria đầy ơn phước.

Bài thơ này xuất xứ từ kinh Kính mừng, không thể cắt nghĩa theo ông Tấn là do Hàn nằm mộng thấy Bà Lê Sơn Thánh Mẫu mà cảm hứng viết ra bài này. Vì vậy ông bỏ bớt chữ Ave để hiểu rộng qua Bà Lê Sơn Thánh Mẫu. Mất chữ Ave bài thơ không còn là kinh Kính mừng nữa.

Một nhà văn hiện đại cũng đã hiểu lầm theo ông Quách Tấn, khi ông dịch câu Song Lộc triều nguyên ra tiếng Pháp (sách L’experience de l’itindraire spirituel de Hàn Mặc Tử) mượn ý trong mẫu câu thánh Vịnh (Psaumé).

Comme languit une biche

Après leau vive

Ainsi languit mon âme

Ver Toi mon Dieu

(Đại ý con nai khao khát dòng nước trong)

Song lộc nghĩa đen là hai con nai.

Một đoạn thơ khác, đoạn thơ mà ông Tấn dựa vào để giải thích sự can thiệp của bà Lê Sơn Thánh Mẫu trong giấc mộng của Hàn.

Maria! Linh hồn tôi ớn lạnh

Run như run, thần tử thấy long nhan

Run như run hơi thở chạm tơ vàng.

Nhưng lòng vẫn thấm nhuần ơn trìu mến

Đây là đoạn thơ quan trọng nhất, nói rõ hơn tai nạn được xem là phép lạ cứu sống Hàn khi anh bị chìm ngoài biển.

Cũng chính trong đoạn văn này, ông Tấn rút ra một câu chuyện Hàn kể lại đã mộng thấy bà Lê Sơn Thánh Mẫu lấy cành dương rảy lên mình anh nước Cam Lồ, khiến anh phát lạnh run trỗi dậy làm bài thơ này tạ ơn Thánh Mẫu.

Đoạn văn này đã giúp ông Tấn lý luận vì tinh thần đoàn kết tôn giáo nên bỏ đi chữ Ave, đầu đề bài thơ thay thế vào đó Thánh nữ đồng trinh Maria (trong dịp ông và Trọng Miên cùng hợp tác biên tập các bài thơ của Hàn để cho xuất bản tập thơ Hàn Mặc Tử vào năm 1944).

Tôi tưởng nên nhận xét lại từng câu trong đoạn văn đó để xem Hàn muốn nói gì khi viết câu:

Maria! Linh hồn tôi ớn lạnh

Run như run, thần tử thấy long nhan

Hai câu trên đây Hàn nhắc lại phép lạ đã cứu sống anh ở bờ biển năm xưa. Một thứ ánh sáng chói lạ lùng làm cho anh ớn lạnh mà ngất đi.

Câu thứ hai được các nhà văn công giáo định nghĩa là mọi người đều xem Chúa như Vua, cho nên run sợ khi đứng trước mặt Vua. Anh Bùi Tuân cũng cho là Hàn muốn nói đến quyền uy sáng chói của Thiên Chúa, không liên quan đến Đức Mẹ. Ý kiến này, theo cố Labisusse cha sở Quy Nhơn, khi tôi trình bày câu chuyện bờ biển. Cố nói: Đừng nói bậy có tội, Đức Mẹ nào làm phép lạ được.

Việc này không ai rõ hơn Hàn. Nhưng anh sợ tội, không dám tuyên xưng vinh quang Đức Mẹ, nhưng chính anh dù là trong mơ màng, anh vẫn tin đã được tiếp xúc với Đức Mẹ. Chúng tôi cùng suy nghĩ với nhau về thứ ánh sáng lạ lùng đã làm mờ mắt anh Trí có thể cũng giống như Kinh thánh kể chuyện ông Môise lên núi Tabor nghe lời Chúa phán, phải che mặt không dám nhìn thứ ánh sáng đó. Kinh thánh nói: Chúa truyền thông với loài người bằng lời nói (le verbe) bằng ánh sáng cho đến khi Ngôi Hai ra đời (le verbe fait clair) ở giữa loài người.

Bởi vậy, cho nên, Hàn cũng chấp nhận nếu quả thực có phép lạ, thì là Chúa làm, nhưng anh vẫn bứt rứt chưa nói được sự thật là có Đức Mẹ trong đó.

Mặc đầu rất sợ tội, anh vẫn hé mở tiết lộ để nói lên vinh quang Đức Mẹ, và cũng làm chứng có sự hiện diện Đức Mẹ hôm đó. Sự thật này nằm trong câu:

Nhưng lòng vẫn thấm nhuần ơn trìu mến

Hai chữ “trìu mến” hình dung được cử chỉ ôm ấp vào lòng. Chỉ có tình thương giữa Mẹ con mới có sự trìu mến đó. Và đó là chứng minh sự có mặt Đức Mẹ.

Như trong ảnh tượng Đức Mẹ hằng cứu giúp mà anh suy niệm những ngày còn ở Huế đi hành hương chiều thứ bảy, như câu kinh:

Chúa Giê su run sợ khi thấy thánh giá khổ hình sẽ phải chịu, thì chạy đến ẩn nương trong cánh tay Mẹ, Chúa Giê su đó là những linh hồn lâm nguy gian nan…

Quả là sự an ủi lớn lao cho anh khi anh đã hoàn toàn thất vọng với chứng bịnh nan y, chỉ còn trông cậy Mẹ.

Ý nghĩa này anh còn lập lại trong bài thơ Nguồn thơm:

Toan ngất đi trong cơn khoái lạc

Mẹ dấu yêu liền vội đến tay nâng.

Trong đoạn thơ thứ ba, Hàn còn nhắc lại phép lạ với câu cảm tạ về phép lạ ngoài bờ biển:

Lạy Bà là Đấng tinh tuyền thánh vẹn

Giàu nhân đức, giàu muôn hộc từ bi

Cho tôi dâng lời cảm tạ phò nguy

Cơn lâm lụy vừa trải qua dưới thế.

Tôi cảm động rưng rưng hai hàng lệ

Kinh Kính mừng còn nhắc lại nhiều lần gián tiếp qua Sứ thần Gabriel qua tràng hạt chuỗi Mân Côi

Hỡi sứ thần Thiên Chúa Gabriel

Khi người xuống truyền tin cho Thánh nữ…

… Người có nghe thơ mầu nhiệm ra đời.

Để ca tụng bằng hoa hương sáng láng

Bằng tràng hạt, bằng sao mai chiếu rạng…

… Đây rồi, đây rồi, chuỗi ngọc vàng kính…

Tấu lạy Bà, lạy Bà đầy ơn phước

Cho tình tôi nguyên vẹn tơ trăng rằm

Thơ trong trắng như một khối băng tâm

Để kết luận, chúng ta có đầy đủ lý luận để tin bài thơ Thánh nữ Đồng trinh Maria là kinh Kính mừng bằng thơ của Hàn Mặc Tử.

Điều tôi lấy làm lạ, bài Thánh nữ Đồng trinh Maria này được mọi người Công giáo hiểu ngầm là kinh ca tụng Đức Mẹ, cũng có người liên tưởng đến kinh Kính mừng trong một vài câu trùng hợp, hoặc ý nghĩa gần gũi. Thế nhưng không ai lên tiếng xét lại cho đúng bài với cái tên Ave Maria.

Từ năm mươi năm nay, các nhà văn công giáo khi nói đến bài này, cũng đều hiểu ngầm là kinh Kính mừng, và sự mãn ngang đó.

Nhiều luận án văn chương có đề cập mấy chữ Ave Maria, nhưng không có ai chính thức thừa nhận là kinh Ave Maria, kinh Kính mừng riêng của Hàn viết bằng thơ.

*

Đã có một dạo, người công giáo bày tỏ lòng trông cậy chạy đến kêu xin Đức Mẹ rầm rộ sôi nổi thậm chí một linh mục nào đó phải thốt lên: Chúa ôi! Người ta đã quên Chúa, chỉ biết có Mẹ thôi.

Một cha xứ khác than thở: Trong nhà thờ, trong nhà Tạm có Chúa ngự mà ít người đến cầu xin bằng ngoài Hang đá Đức Mẹ.

Bây giờ Đức Mẹ có chỗ đứng rất cao trên khắp thế giới, nào là Lộ Đức, Fatima, La Vang, Đức Mẹ ở nơi này Đức Mẹ ở nơi kia nhưng vẫn chưa chính thức trong bài Ave Maria của Hàn Mặc Tử.

Một người bạn ở hải ngoại, đọc cuốn sách Hàn Mặc Tử - anh tôi, gửi thơ về hỏi: Bao giờ thì đưa Ave Maria về trong tập thơ Hàn Mặc Tử xuất bản từ năm 1934 (nhà xuất bản Đông phương và Tân Việt).

2. ĐÂY THÔN VĨ DẠ

Một bài thơ được nổi tiếng rất hay, được nhiều người yêu mến, được chọn làm tên một tập thơ có giá trị cao của nhiều nhà văn tên tuổi trong nước.

Hiện tại bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ được Bộ Giáo dục và Đào tạo đưa vào chương trình văn học cấp ba.

Vì vậy tôi tưởng xin góp ý để phân tích một vài điểm, mà thời đó có ít nhiều tranh luận.

Có lẽ đây là bài thơ sắc sảo, tế nhị nhất mà Hàn Mặc Tử, trong một ngày nào đó, trí óc rất minh mẫn, con tim lấy lại được nhịp độ tình yêu một thời thương nhớ cao nhất của Hàn, mà chỉ còn cách cái chết không bao xa.

Nguyên thủy bài thơ là: Ở đây thôn Vĩ Dạ

Chữ Ở trong đầu đề đã tạo được nhiều nhận xét tranh luận, sau đó không lâu, khi Hàn qua đời. Có nhiều người nặng óc giáo khoa chê chữ Ở trong đầu đề hơi quê, không nhẹ nhàng văn vẻ. Vì vậy tự động bỏ chữ Ở cho đầu đề ngắn gọn: Đây thôn Vĩ Dạ nghe văn nghệ hơn.

Tôi nghĩ Hàn có lối viết mộc mạc đơn sơ như tánh tình bình dị của anh, không phải chải chuốt, đôi khi hơi quê kệch gồ ghề như trong câu:

Họ đã xa rồi không níu lại

Tình thương chưa đã mến chưa bưa

Chữ “đã” chữ “bưa” nghe sao thô kệch, còn táo bạo nữa, vậy mà lại hay vì lột được bản chất vừa thô vừa quê của Anh.

Ở đoạn cuối bài thơ, Hàn còn nhắc lại một lần nữa như để nhấn mạnh ý nghĩa không gian của bài thơ

Ở đây sương khói mờ nhân ảnh

Bạn bè có tranh cãi đôi chút chung quanh: Ở đây là ở đâu? Ở Huế hay Quy Nhơn (xóa động Gành Ráng nơi Hàn đang viết bài thơ?)

Có thể là ở Quy Nhơn như Hàn nói. Nhưng sương khói mờ nhân ảnh phải đặt vào đâu để so sánh. Ai là nhân ảnh?

Hàn có lối diễn tả một vài chữ để bóng gió cắt nghĩa văn.

Sương khói ở đây tôi nghĩ Hàn liên tưởng khói trầm hương.

Nhân ảnh có thể là con người thế tục của anh trong tương quan với con người tu hành là chị Cúc.

Vì vậy “ở đây” có thể hiểu là “ở đó”, thi sĩ đã thu gần quãng cách không gian lại khi mơ màng nhìn say đắm bóng người trong ảnh.

Chính bức ảnh 6x9 này đã giúp Hàn sáng tác bài thơ tuyệt vời Đây thôn Vĩ Dạ. Hình bóng chị Cúc xuất hiện trong phiến ảnh nhỏ này đã làm sống lại mối tình đầu, thương nhớ lại trở về. Anh viết:

Sao anh không về chơi thôn Vỹ

Anh bỏ vận trắc, thành câu hỏi như bất chợt, làm người đọc nghĩ đến một sự đợi chờ quá lâu, có đôi phần thương nhớ pha chút trách yêu. Câu mở đầu đã diễn tả được lòng anh và có lẽ cả chị Cúc nữa.

Nhưng câu thứ hai thì tạo một ý niệm có thể làm cho chị Cúc, cô gái nhiều mặc cảm và kiêu sa, đã phải băn khoăn từ nhiều năm.

Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên

Câu này có vẻ hững hờ như một nét chấm phá trong bức tranh Vĩ Dạ, tuy rất đẹp cho khung cảnh, nhưng lại lạc lõng bơ vơ không ăn khớp được với phong độ và tình cảm của người được tặng thơ.

Năm 1985, tôi có về Huế ghé thăm chị Cúc, cũng nhắc lại bài thơ “Thôn Vỹ” chị Cúc chợt hỏi: Cậu có tìm được một cây cau nào trong vườn tôi không? Sao anh Trí lại nói đến “hàng cau”?

Tôi hiểu ngay: Thì ra câu này làm chị Cúc hiểu lầm. Tôi nghĩ khi viết câu này, anh Trí không có một khái niệm rõ ràng về cây cau, giá trị của nó về lợi tức, thẩm mỹ hay tượng trưng tình cảm, mà chỉ là một nét chấm phá về cấu trúc thẩm mỹ cũng như bức tranh “con chim sẻ đậu trên cành trúc” mà Mạc Đĩnh Chi trông thấy bên Tàu khi đi xứ qua đó. Con chim sẻ quá đẹp nên không ai để ý đến vị thế hèn kém của nó trên cành trúc.

Thôn Vỹ Dạ, đã từ lâu, hình như chỉ dành riêng cho thế giới quan tham, quan thị, cô chiêu, cậu ấm, thì lại rất không may phải nằm sát nách với Nam Phổ, một thôn bình dân, đơn giản, sống bằng nghề trồng cau, chỉ cau và cau. Cau Nam Phổ rất nổi tiếng, hột lớn, mỏng vỏ dùng vào kỹ nghệ nhuộm lưới rất được miền Bắc ưa chuộng.

Hàng năm, đến mùa cau, trong gia đình, lớn, bé, trai, gái, đều biết trèo cau, “trảy” cau bán cho kịp mối. Các cô gái Nam Phổ, cũng nổi tiếng trèo cau rất giỏi. Nhiều cậu trai Huế xuống thường chòng ghẹo những “nường” má đỏ hây hây vì nắng rám, đẹp một cách mạnh khỏe nhưng ngổ ngáo chẳng thua gì con trai.

Câu ví: “Con gái Nam Phổ ở lỗ trèo cau” làm cho người đẹp Nam Phổ rất giận.

Những ngày còn đi học, thường nghe chuyện các cô gái Nam Phổ hè nhau xúm lại “bóc vỏ” những anh trai nào lớ ngớ về Nam Phổ buông lời chòng ghẹo. Nhiều anh bị “bóc vỏ” ném vào các bụi dứa gai thì “đời tàn”, nếu không có cứu viện phải đợi đến tối mới mò ra.

Tiếng tăm Nam Phổ, nghe cũng ngán thật.

Có lẽ vì vậy, thôn Vỹ Dạ, phải cẩn thận xét nét, từng câu từng chữ kẻo lại bị người đánh giá thấp đi.

Cố nhiên là những cô gái khuê các vùng Vỹ Dạ rất sợ cái tiếng “trèo cau” đó. Và cũng không ai chịu trồng cau ở Vỹ Dạ.

Ai lại đem “hàng cau” về đặt vào “vườn ai mướt quá xanh như ngọc”. Chị Cúc giận là phải lắm.

Nghe chị nói có vẻ không bằng lòng, tôi vội vàng giải thích:

Vườn chị đây nè:

Vườn ai mướt quá xanh như ngọc

Lá trúc che ngang mặt chữ điền.

Đã có cây trúc thanh cao “tiết trực tâm hư (ngay thẳng không tơ bợn gì)” nữa thì tuyệt quá rồi!

Chị Cúc bấy giờ mới cười vui vẻ.

Đoạn văn thứ hai mới là đoạn văn Hàn tâm sự:

Gió theo lối gió, mây đường mây

Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay

Thuyền ai đậu bến sông trăng đó

Có chở trăng về kịp tối nay?

“Gió theo lối gió, mây đường mây”. Lương giáo không hòa đồng ân tình khó kết hợp. Thân thế anh như đám bắp bến đò Cồn, hướng về thôn Vỹ Dạ, lặng nhìn dòng nước vô tình trôi. Vậy thì con thuyền ai cắm sào đợi đó, có chở trăng về cho anh đỡ cô đơn. Vì anh chỉ còn có trăng.

Đoạn thơ thứ ba mới có một lời buồn trách:

Ai biết tình ai có đậm đà.

Chữ đậm đà ở đây phản ánh sự lợt lạt chiếc áo trắng lại còn trắng nữa thì thật không còn tìm đâu được chút màu sắc hứa hẹn nào.

Lại nữa, trên bức ảnh không ghi một câu hỏi thăm nào mà anh hằng mơ ước xa xôi. Vậy thì ai biết tình ai có đậm đà.

Câu thơ này nói lên nỗi mong đợi từ xa vẫn còn trong mơ hồ.

Mơ khách đường xa, khách đường xa

Áo em trắng quá nhìn không ra.

Hai câu kết ý Hàn nói phải chăng vì đời sống trầm hương của chị Cúc (sương khói) đã che mờ đi bóng dáng con người nhân thế của anh.

Ở đây sương khói mờ nhân ảnh

Ai biết tình ai có đậm đà.

Hai câu kết này lấy lại ý thơ đoạn hai, vì lương giáo không hòa đồng mà đôi bên phải chia cách. Liệu còn nhớ nhau không?

Ở đây thôn Vĩ Dạ là một bài thơ tình tứ sâu sắc. Chỉ cần đọc qua cũng đã thấy ý nghĩa của nó: vừa nhớ nhung nhẹ nhàng, buồn trách xa xôi, không ai phiền luỵ ai, mà sao nghe như day dứt xót xa. Không ai nặng lời ai, mà nghe hờn tủi từ chiếc áo trắng không lời, từ đám bắp hiu quạnh cho đến con đò đợi trăng.

Bài thơ tuyệt vời từ ý đến lời này được chọn làm một tập thơ rất có giá trị của nhiều thi nhân tiếng tăm.

Bài thơ này, ông Quách Tấn giải thích một cách hờ hững suy diễn theo riêng tư không có cơ sở khiến chị Cúc nghe được bất bình lắm, nhưng chị lịch sự không muốn nói ra.

Trong một dịp về Huế ghé thăm chị Cúc nhắc lại những câu chuyện ông Tấn viết về chị trong Đôi nét về Hàn Mặc Tử, chị nói:

Ông Tấn kể chuyện anh Trí đi Sài Gòn lập chí để xem người ta còn khinh anh nữa không. Chị nói: Người ta đây ông Tấn ám chỉ tôi. Vì tôi đã chê anh Trí không xứng môn đăng hộ đối.

Chị Cúc nói: giữa anh Trí và tôi chưa hề có lời trao đổi chê khen, dù là gián tiếp, chưa hề có thái độ thân sơ, khinh trọng. Vậy ông Tấn dựa vào đâu mà xét đoán tôi tầm thường như vậy. Dòng họ tôi sống theo nho phong Phật giáo có bao giờ mặc áo khỏi đầu. Anh Trí cũng biết vậy. Anh Trí viết trong bài Ở đây thôn Vĩ Dạ cũng đã thông cảm ý đó:

Gió theo lối gió mây đường mây.

Chị Cúc cũng thổ lộ: nếu nói về chuyện môn đăng thì thật là quá khinh bạc đối với gia đình Hàn Mặc Tử.

“Ông cụ tôi, chị nói (cụ Hoàng Phùng, thân sinh chị) đã từng là bạn đồng liêu với cụ Tham (cha tôi) khi hai người còn làm việc tại Tòa sứ Hội An năm 1901. Tôi đọc gia phả cụ tôi có ghi năm đó bàn giao công việc đối với cụ Tham Nguyễn Văn Toản khi cụ chuyển ngành qua Thương Chánh. Nói như ông Tấn thì thật sai lầm làm cho tôi hổ thẹn.

Sau này về Huế gặp lại chị Như Lễ, gặp lại cậu tôi không biết ăn nói ra làm sao!

Chị Cúc cứ băn khoăn: Ông Tấn ghép tôi vào câu chuyện “đầu Cúc mình Cầm” gì gì đó trong mối tình anh Trí với chị Mộng Cầm. Tôi không hiểu ông Tấn muốn nói gì. Tôi an ủi chị: Ông thích nói cho vui vậy thôi, chuyện chi chị phải áy náy. Ngay câu chuyện ông nói Hàn vào Sài Gòn ghé Nha Trang thăm ông đã là đùa rồi, vì tháng 7/1934, ông Tấn còn đang ở Đà Lạt, vậy anh Trí thăm ai ở Nha Trang. Thôi bỏ đi, đừng suy nghĩ mà mệt trí.

Năm 1986, chị Cúc vào Sài Gòn ghé thăm chị Như Lễ, trông thấy bức ảnh Hàn treo trên vách không khuôn, chị lặng lẽ đi mua cái khung gỗ mới, tự tay tra ảnh vào khung treo lên. Cả nhà chị Như Lễ đều xúc động.

Hai năm sau, tôi lại có dịp ra Huế thăm chị, chị cầm tôi ở lại dùng cơm chay với chị để nói chuyện văn thơ. Chị cho tôi xem một bài thơ của một thi sĩ ở Huế viết tặng chị và Hàn. Bài thơ rất hay nhưng giọng văn thật buồn trệ, nghe hoang vắng tiêu sơ. Ngay trong bốn câu đầu đã có vẻ tang thương rồi.

Thôn Vỹ ai đã hẹn ghé chơi

Mà sao dâu bể vắng tăm người

Vươn xưa cúc nở bâng khuâng mãi

Thềm cũ xuân qua lặng lẽ hoài…

Có lẽ chị cũng linh cảm những gì không may mắn cho lắm. Những chữ dâu bể, vườn xưa, thềm cũ như nói đến tang thương. Tôi cảm thấy một nỗi lo lắng không đâu. Nghe chị nói sẽ vào Sài Gòn, tôi vụt nói: “Thôi chị lớn tuổi rồi, không nên đi xa.” Chị cười buồn: “để đi chuyến nữa rồi về sẽ nghỉ.” Ra về, cứ vẩn vơ lo lắng cho chị. Bài thơ đó ám ảnh tôi cho đến Sài Gòn.

Tôi quý trọng chị Cúc và thương mến chị như chị ruột tôi. Anh Trí yêu chị tha thiết vì là mối tình đầu của Anh. Nhưng anh xem chị là một người nhân tu thánh thiện, vì thế mà anh kính nhi viễn chi. Không bao giờ nhắc đến tên chị trong các câu chuyện bông đùa thiếu đứng đắn.

Cuối năm 1939, nhận được bức ảnh chị, anh càng thương nhớ chị. Trong bài thơ Đừng cho lòng bay xa, anh ước ao gặp được hồn phách chị trong vùng trời xa lạ thần tiên như cõi Niết Bàn anh đã trông thấy những lúc du hành xuất thần.

... Xa lạ đời trăng mọc nước Huyền Vi

Đây Miên trường, đây Vĩnh Cửu tề phi

Cao cao vượt với hai hàng bóng vía

Trời nhật nguyệt cầu vồng bắt tứ phía

Ôi! Hoàng Hoa, hồn phách đến nơi đây.

Hương ân tình cho kết lại thành dây

Mong manh như lời nhớ thương hàng triệu…

Trên chuyến xe đò về Nha Trang, tôi không yên tâm, giở ra xem lại hai bài thơ của nhà thơ V.Q. Bài nào khẩu khí cũng thoáng đoáng đổi thay chia cách.

Ông Quý có họa bài thơ Hoàng Hoa cảm tác của tôi sau đây, mà chị cho là có hậu.

Áo trắng ngày xưa nay áo nâu

Khen ai khéo chọn cảnh đời sau

Vàng son đoạn tuyệt bồi nhân quả

Dưa muối trường trai diệt khổ đau

Trần tục may rời vòng nghiệp chướng

Căn cơ ráng giữ mối duyên tu

Buồn vui thế sự, thôi đừng nhắc

Để chút tình thơ đáp nghĩa nhau.

Hai bài thơ ông Quý rất hay, lời thơ già dặn, ý thơ nhẹ nhàng thanh thoát, nhưng hai câu kết đều mang ý nghĩa mãn cuộc, thay đổi.

Thương đời áo trắng đổi thành nâu

Hẹn gặp ngày vui lại cõi sau

Giã cảnh phồn hoa thay cảnh tịnh

Tìm niềm thanh thỏa xóa niềm đau

Duyên kia xin thấm nhuần hương đạo

Nghĩa ấy mong tròn vẹn quả tu

Mãn cuộc luân hồi xuân tái tạo

Áo màu lại trắng mãi trong nhau.

V.Q

Bài thứ hai lại càng buồn trệ hơn (chép lại tiếp đoạn trên):

Thôn Vỹ ai đã hẹn ghé chơi

Mà sao dâu bể vắng tăm người

Vườn xưa cúc nở bâng khuâng mãi

Thềm cũ xuân qua lặng lẽ hoài

Áo trắng đã pha màu khói nhạt

Tình thơ còn đượm sắc hương trời

Năm mươi lặng lẽ trăng tròn khuyết

Ai biết ai còn ngóng đợi ai.

V.Q

Cả hai bài thơ đều có một giọng văn hay nhưng thật buồn.

Tôi thật tình lo sợ khẩu khí hai bài thơ đó, nhất là chị Cúc đã lớn tuổi. Nhớ lại khi tiễn tôi ra về, từ nhà đến đường cái lớn, chị trầm ngâm dùi dắng, như không dứt một nỗi suy tư.

Tôi bèn lấy giấy bút họa lại bài thơ ông V.Q cố tìm những từ có hậu để giảm thiểu ý nghĩa bi quan, nhưng đến đoạn kết cũng phải lâm vào “viên mãn”.

Từ thuở non Bồng mãi dạo chơi

Thuyền ai đậu bến có mong người

Duyên xưa hương ướp chưa đành đoạn

Nghĩa cũ trầm xông vẫn ái hoài

Thôn Vỹ thơ bay về nước Nhược

Hoàng Hoa bông trải đến mây trời

Hẹn nhau gặp lại Mùa Viên Mãn

Mới biết ai còn ngóng đợi ai.

Về đến Nha Trang, tôi gởi bài thơ này ra Huế, nhưng còn dè dặt không nói gởi chị mà nhờ chị chuyển đến ông V.Q nguyên xướng hai bài thơ tặng chị.

Tôi hiểu tánh chị, không bao giờ nhận thơ ai tặng mà lời thơ có ít nhiều tình tứ yêu đương. Chị nói, khi anh Trí viết Bâng Khuâng nhờ anh Hoàng Tùng Ngâm đưa lại, chị cũng không trả lời. Lần khác, ông Trần Tái Phùng viết mấy câu thơ của anh Trí, nhờ người anh Cả chị cùng làm một sở, trao cho chị nhờ giải thích:

Xiêm áo hôm nay tề chỉnh quá

Muốn ôm hồn Cúc ở trong sương

Chị cũng lặng thinh. Quả thật, chị muốn tâm hồn được trong sáng dành cho cuộc đời tu hành không vẩn đục vì những tầm thường trần thế.

Bức thư chị viết cho tôi hôm 11/07/88, chị nói: tôi đã trao thơ cậu họa cho ông V.Q. Các bài thơ xướng họa rất sát nghĩa, hay lắm. Thú thật với cậu, hai mươi năm trước đây, nếu có ai tặng tôi những bài thơ như thế, chắc chắn tôi không bao giờ nhận. Nhưng nay thì tôi hoan hỷ nhận tất cả những tình ý chân thành của chung quanh, vì tôi nghĩ mai đây khi mà:

Gặp nhau lại tâm hồn thanh thản

Còn nghĩ gì ai ngóng đợi ai

Tôi nhận ra đây là một dấu hiệu kỳ lạ thay đổi của con người luôn luôn kiêu hãnh với Lễ Nghĩa, với Khuôn Thước. Tôi nghĩ tâm hồn chị bây giờ rất gần gũi với Trời Phật, những tuế toái nhân thế không còn phiền lụy chị được nữa.

Mấy tháng sau đó, vào Sài Gòn lòng vẫn bồn chồn không biết chị đã vào chưa.

Bỗng nhiên nghe tin chị bị tai nạn xe cộ trên con đường chỉ cách nhà tôi có 200 mét. Hốt hoảng tôi và anh Thanh Địch xuống bệnh viện Chợ Rẫy thăm thì chị đã bị hôn mê từ mười ngày rồi.

Nhìn chị nằm bất động, tôi bùi ngùi thương cảm. Hóa ra chuyến về Huế vừa rồi, để cho tôi từ biệt chị. Chị mất sau đó ít lâu. Lễ an táng vô cùng trọng thể, được mọi người thương tiếc tiễn đưa.

Viết lại mấy dòng này về nữ sĩ Hoàng Hoa để tưởng nhớ hương hồn chị, một nguời đàn bà chỉ biết lễ nghĩa, khuôn thước làm lẽ sống cho cuộc đời Đạo đức Tu hành.

****
Mời bạn thảo luận, vui lòng nhập Tiếng Việt có dấu
loadingĐang xử lý