Lolita

Q.2 - Chương 33 (Cập nhật lúc: 17:42 12/12/2017)
Chọn màu nền
Chương 33

Trở lại thăm Ramsdale. Tôi tiếp cận thành phố từ phía hồ. Buổi trưa nắng toàn mắt là mắt. Ngồi trong chiếc xe lấm lem bùn lổ đổ, lái qua bên hồ, tôi nhìn thấy những vẩy nước óng ánh như kim cương giữa những cây thông xa xa. Tôi rẽ vào nghĩa trang và dạo bước giữa những bia đá tưởng niệm, cái dài cái ngắn. Bonzhour [1] (chào)Charlotte. Trên một vài nấm mộ, có những lá quốc kì nhỏ trắng nhọt, trong suốt, rũ xuống trong không khí lặng gió, dưới hàng cây xanh bốn mùa. Chà, Ed, thật không may - là nói về Edward Grammar [2], một quản lí cơ quan ba mươi lăm tuổi, vừa mới bị buộc tội mưu sát người vợ ba mươi ba tuổi, Dorothy. Toan tính một vụ ám sát hoàn hảo, Ed đã dùng dùi cui đánh vợ rồi đặt vào một chiếc ô tô. Vụ việc được lôi ra ánh sáng khi hai cảnh sát quận đi tuần tra trông thấy chiếc Chrysler lớn màu xanh mới toanh của bà Grammar, quà tặng của chồng nhân dịp sinh nhật, lao như điên xuống dốc, đúng ở trong phạm vi tài phán của họ (Chúa phù hộ các cảnh sát tốt của chúng ta!). Chiếc xe quệt phải một cái cột, leo lên một ta luy đầy cỏ gà, dâu tây dại và cây ỷ lăng, rồi lật nhào. Các bánh xe vẫn còn quay nhè nhẹ trong ánh nắng êm dịu khi các cảnh sát lôi được thi thể bà G. ra. Thoạt đầu, có vẻ như chỉ là một tai nạn thông thường trên xa lộ. Than ôi, những vết bầm trên thân thể người đàn bà không ứng với những hư hại chỉ rất nhẹ của chiếc xe. Phải tay tôi thì tôi đã làm khéo hơn.

[1] Đúng ra là “bonjour”, H.H đổi chính tả đi để bắt chước Charlotte.

[2] Đây là một vụ phạm tội có thật, lượm ra từ báo chí, Nabokov ghi chú.

Tôi tiếp tục lăn bánh. Thấy lại cái nhà thờ trắng thanh mảnh và những cây du du to đùng, thật là ngộ nghĩnh. Quên bẵng rằng ở Mĩ, trên một con phố ngoại ô, một khách bộ hành đơn độc còn lộ liễu hơn một người lái xe lòng vòng một mình, tôi để xe ở đại lộ, công nhiên đi bộ qua số nhà 342 Lawn Street. Trước cuộc đại thảm sát, tôi có quyền xả hơi một chút, ợ lên một cú ợ tinh thần có tính chất tẩy rửa. Những cửa chóp sơn trắng của ngôi nhà hào nhoáng bề ngoài đóng chặt và ai đó đã gắn một dải nhưng đen với tua rua tóc nhặt được ngoài đường lên tấm biển NHÀ BÁN xiêu xiêu về phía vỉa hè. Không có con chó nào sủa. Không có người làm vườn nào gọi điện thoại. Không có Miss Opposite nào ngồi ở hiên nhà đầy dây leo - thay vào đó, ngán thay cho người khách bộ hành, hai thiếu phụ để tóc đuôi ngựa, mặc tạp dề có chấm tròn y hệt nhau, ngừng công việc đang làm để nhìn chằm chằm vào tôi: rành là nàng đã chết từ lâu rồi và đây có lẽ là hai cô cháu gái sinh đôi của nàng từ Philadelphia đến.

Liệu tôi có nên vào ngôi nhà cũ của mình? Như trong truyện của Turgenev [3], một suối nhạc Ý tuôn ra từ một cửa sổ để mở cửa sổ phòng khách: vong hồn lãng mạn nào đang chơi dương cầm ở nơi mà, vào cái ngày Chủ nhật mê đắm ấy với ánh nắng trên đôi chân yêu dấu của em, chẳng có tiếng dương cầm nào tuôn trào và dậy sóng? Bỗng nhiên, tôi chợt nhận thấy, từ bãi cỏ mà ngày xưa tôi từng xén tỉa, một tiểu nữ thần chừng chín, mười tuổi, da óng vàng, tóc nâu, mặc quần soọc trắng, đang nhìn tôi, cặp mắt to màu xanh-đen đầy một vẻ mê hoặc cuồng khấu. Tôi nói một điều gì đó lấy lòng, không chút ác ý, một lời khen theo kiểu châu Âu, err.. có đôi mắt đẹp làm sao, nhưng cô bé vội vã rút lui, và tiếng nhạc: đột ngột tắt, và một gã da đen bộ dạng hung hãn, mình bóng nhẫy mồ hôi, từ trong nhà đi ra và trừng trừng nhìn tôi. Tôi đã sắp sửa xưng danh thì chợt bối rối giật thót người như trong mơ, tôi nhận ra mình đang mặc một cái quần bảo hộ lao động dính bết bùn, chiếc áo pun bẩn thỉu, rách rưới, cằm lởm chởm râu, mắt vằn tia máu như một kẻ cù bơ cù bất. Không nói một lời, tôi quay đầu và ì ạch quay trở lại lối mình đã đi tới. Một bông hoa thiếu máu giống như hoa cúc tần mọc ra từ một kẽ nứt mà tôi còn nhớ trên vỉa hè. Lặng lẽ sống lại, Miss Opposite đang đuợc cô cháu gái đẩy trên một chiếc ghế lăn ra hiên nhà, như thể đó là sân khấu và tôi là kép chính vậy. Cầu trời cho bà đừng gọi mình, tôi hối hả chạy về xe. Con phố nhỏ sao mà dốc! Đại lộ sao mà sâu! Một cái vé phạt màu đỏ được gài giữa cái gạt nước và kính chắn gió; tôi miệt mài xé nó làm hai, bốn, tám mảnh.

[3] Ám chỉ một cảnh gần cuối tiểu thuyết Một tổ quý tộc của nhà văn Nga Ivan Turgenev (1818-1883).

Cảm thấy mình đang mất thì giờ vô ích, tôi mạnh mẽ lái xe đến cái khách sạn ở trung tâm thành phố mà hơn năm năm trước, tôi đã tới với một chiếc va li mới. Tôi lấy một phòng, gọi điện thoại ấn định hai cuộc hẹn, cạo râu, tắm rửa, mặc bộ đồ đen vào và xuống bar làm một li. Chẳng có gì thay đổi. Tràn ngập phòng bar vẫn là cái thứ ánh sáng màu đỏ hồng ngọc mờ mờ phi lí mà ở châu Âu nhiều năm trước là đặc trưng của những tụ điểm hạ cấp, nhưng ở đây, lại tạo nên chút ít không khí của một khách sạn-gia đình. Tôi ngồi ở chính cái bàn nhỏ mà từ đầu giai đoạn lưu trú của tôi ở đây, ngay sau khi trở thành người thuê nhà của Charlotte, tôi đã thấy là nơi thích hợp để ăn mừng sự kiện đó bằng cách ngọt ngào chia sẻ với nàng nửa chai sâm banh, điều đó, tựa như theo sự sắp đặt của định mệnh, đã chinh phục trái tim ứa trào tội nghiệp của nàng. Giống như hôm ấy, lúc này một bồi bàn có khuôn mặt tròn như mặt trăng, với sự cẩn trọng của một vì sao, đang xếp năm mươi trái anh đào vào một cái khay cho một tiệc cưới. Lần này là cặp Murphy-Fantasia [4]. Lúc này là ba giờ kém tám phút. Đi ngang qua sảnh, tôi phải né vòng một đám phụ nữ đang tạm biệt nhau với
mille grâces
[5] sau một bữa ăn trưa liên hoan. Với một tiếng ré lên mừng rỡ nhận ra người quen, một bà nhảy chồm tới vồ lấy tôi. Đó là một bà thấp tè, béo tròn vận đồ màu xám ngọc trai với một chiếc lông chim dài mảnh màu xám cắm trên chiếc mũ nhỏ. Bà Chatfield. Bà ta tấn công tôi bằng một nụ cười giả tạo, bừng bừng khí thế tò mò độc địa. (Liệu tôi có làm với Dolly cái điều mà Frank Laselle, một thợ máy năm mươi tuổi, đã làm với cô bé Sally Horner mười một tuổi, vào năm 1948?). Rất nhanh chóng, côi kiểm soát được cơn hứng khởi hau háu đó. Bà ta tưởng tôi đang ởCalifornia? Sức khỏe của...? Với niềm vui thích tuyệt vời, tôi báo cho bà biết con gái riêng của vợ tôi vừa mới cưới một kĩ sư mỏ trẻ xuất sắc đang giữ một chức trách tuyệt mật ở vùng Tây Bắc. Bà nói bà phản đối những cuộc hôn nhân sớm như vậy, bà ắt không bao giờ cho phép Phyllis của mình, nay đã mười tám tuổi...

[4] Stella Fantasia là bạn cùng lớp với Lolita (xem bản danh sách bạn cùng lớp chương 11, Phần Một). Chú ý cách chơi chữ: “Mặt tròn như mặt trăng”, “với sự cẩn trọng của một vì sao (stellar care)” và cái tên của cô dâu Stella.

[5] Ngàn lời thân ái.

“À, phải, tất nhiên,” tôi bình thản nói. “Tôi có nhớ Phyllis, Phyllis và Trại hè Q. Vâng, tất nhiên. Nhân tiện, xin hỏi bà, Phyllis có bao già kể với bà chuyện Charlie Holmes đã hủ hóa các trại viên nhỏ ở đó, do mẹ nó phụ trách, như thế nào không?” Nụ cười đã nứt nẻ của bà Chatfield giờ vỡ vụn hoàn toàn. “Thật đáng xấu hổ,” bà kêu lên, “thật đáng xấu, ông Humbert! Thằng bé tội nghiệp vừa tử trận ở Triều Tiên.”

Tôi nói, bà không thấy là cách nói của người Pháp, “
vient de
[6]” cộng với động từ ở thể nguyên mẫu, biểu đạt những sự việc vừa xảy ra gọn nhã hơn nhiều so với “just” cộng với thì quá khứ trong tiếng Anh sao? Nhưng tôi phải ù té đây, tôi nói thêm.

[6] vừa mới.

Văn phòng của Windmuller chỉ cách đây hai khối phố. Ông chào đón tôi bằng một cái bắt tay rất chậm rãi, rất mạnh mẽ, ôm riết, dò xét. Ông tưởng tôi đang ở California? Có một dạo tôi sống ở Beardsley, phải không? Cháu gái ông vừa mới vào trường Đại học Beardslev. Và tình hình của...? Tôi cho ông biết mọi thông tin cần thiết về bà Schiller. Chúng tôi có một cuộc bàn bạc công việc mĩ mãn. Khi ra khỏi đó, dưới ánh nắng tháng Chín nóng nực, tôi đã trở thành một kẻ nghèo khó mãn nguyện.

Giờ đây khi mà mọi trở ngại đã được dẹp bỏ, tôi có thể thoải mái dốc hết tâm trí vào mục tiêu chính của chuyến thăm Ramsdale lần này. Theo cách hành xử có phương pháp mà tôi vẫn lấy làm tự hào, tôi đã giam bộ mặt của Clare Quilty che giấu trong ngục tối của tôi, nơi hắn phải chờ tôi đến cùng với người thợ cạo và linh mục: “
Réveillez-vous, Laqueue, il est temps de mourir
[7](Dậy đi, Laqueue, đến lúc phải chết rồi)” Lúc này tôi chẳng có thì giờ đâu mà bàn về phương pháp luyện trí nhớ về diện mạo - tôi đang trên đường đến nhà ông chú hắn và đang rảo bước - nhưng xin hãy cho phép tôi ghi lại điều này: tôi đã lưu giữ trong ruợu ngâm của một trí nhớ mờ mịt một gương mặt cóc. Trong một số lần thoáng nhìn thấy, tôi đã nhận thấy nó hơi giống một tay lái buôn rượu vang vui vẻ và khá ghê tởm, một người bà con với tôi ở Thụy Sĩ. Với hai quả tạ và chiếc áo tích-cô hôi hám, đôi cánh tay to béo lông lá, cái đầu hói, và với cô hầu gái kiêm nàng hầu mặt lợn của anh ta, nhìn chung, anh ta là một tay lưu manh già vô hại. Thực tế là quá vô hại, không thể nhầm lẫn với con mồi của tôi. Trong tâm trạng hiện tại của mình, tôi đã bỏ lại hình ảnh của Trapp, nó đã bị nuốt chửng hoàn toàn bởi gương mặt của Clare Quilty - như được thể hiện với một độ chính xác nghệ thuật nơi tấm ảnh của hắn đặt trên giá chễm chệ trên bàn của ông chú hắn.

[7] Một trích dẫn bịa, chẳng từ tác phẩm nào, chỉ cốt nhấn vào cái tên Laqueue, trong đó âm tiết queue đọc như Cue, tức Q, tức Quilty.

Hồi ở Beardsley, dưới bàn tay của bác sĩ Molnar, tôi đã trải qua một phẫu thuật răng khá nghiêm trọng, chỉ còn giữ lại mấy chiếc răng cửa nơi hàm trên và hàm dưới. Những răng giả thay thế được gắn vào một tấm kim loại dẹt với một sợi dây thép chạy dọc theo hàng lợi trên của tôi. Toàn bộ thiết bị này là một kiệt tác tiện lợi và những răng nanh của tôi là hoàn toàn lành mạnh. Tuy nhiên, để che đậy mục đích bí mật của mình bằng một cái cớ nghe lọt tai, tôi nói với bác sĩ Quilty rằng tôi đã quyết định nhổ hết răng, hi vọng giảm nhẹ chứng đau thần kinh mặt. Lắp một bộ răng giả đầy đủ hết bao nhiêu tiền? Quá trình điều trị liệu mất bao lâu, nếu như chúng ta ấn định cuộc hẹn đầu tiên vào quãng nào đó trong tháng Mười một? Người cháu nổi tiếng của ông hiện đang ở đâu? Liệu có thể nhổ hết tất cả trong một buổi điều trị căng thẳng?

Trong chiếc áo bờ lu trắng, với mái tóc nhưốm bạc húi cua và cặp má to bẹt của một chính trị gia, bác sĩ Quilty ngồi vắt vẻo trên góc bàn giấy của mình, một chân đu đưa với vẻ mơ mộng và quyến rũ, trong khi lao vào một kế hoạch tầm xa hùng vĩ. Trước hết, ông sẽ lắp cho tôi một hàm giả tạm thời cho đến khi lợi tôi ổn định, rắn trở lại. Đến lúc đó, ông sẽ làm cho tôi một bộ chính thức, vĩnh cửu. Ông muốn xem qua miệng tôi một cái. Ông đi giàyDerby có đục những lỗ nhỏ. Từ năm 1946, ông chưa đến thăm tên vô lại ấy, nhưng chắc hắn vẫn ở ngôi nhà của tổ tiên, Grimm Road, không xa Parkington. Đó là một giấc mơ cao cả. Chân ông đu đưa, mắt ông nhìn đầy cảm hứng. Tôi sẽ tốn khoảng sáu trăm đô la [8]. Ông đề nghị lấy số đo ngay bây giờ và làm bộ đầu tạm thời trước khi bắt đầu các thao tác. Miệng tôi đối với ông là một hang động tuyệt vời đầy những kho tàng vô giá, nhưng tôi từ chối không cho ông vào.

[8] Sáu trăm đô la hồi ấy là cả một gia tài.

“Không,” tôi nói, “nghĩ đi nghĩ lại, tôi sẽ nhờ bác sĩ Molnar làm tất cả. Ông ấy lấy giá cao hơn, nhưng ông ấy dĩ nhiên là một nha sĩ giỏi hơn ông nhiều.”

Tôi không biết trong số độc giả của tôi, có ai sẽ có dịp nói một điều như vậy. Đó là một cảm giác tuyệt diệu, như trong mơ. Ông chú của Clare vẫn ngồi trên góc bàn, vẫn giữ vẻ mơ màng, nhưng chân ông thôi không đưa đẩy chiếc nôi của triển vọng tươi hồng nữa. Về phần mình, nữ y tá của ông, một cô gái gầy như bộ xương, với đôi mắt đầy bi kịch của những nàng tóc vàng không thành công, lao theo tôi để sập cửa đánh rầm sau lưng tôi.

Tra băng đạn vào báng súng. Ấn mạnh cho đến khi nghe hoặc cầm thấy băng đạn vào ổ đánh cách. Thấy lòng ấm áp tuyệt vời. Dung tích: tám viên. Màu đồng: Đau đáu chờ được vọt ra khỏi nòng.

Chương 34

Ở Parkington, một nhân viên trạm xăng chỉ dẫn rất rành rọt cho tôi đi ngả nào để đến Grimm Road. Muốn chắc chắn là Quilty có nhà, tôi định gọi điện nhưng kịp biết rằng điện thoại nhà riêng của hắn gần đây đã bị cắt. Thế có nghĩa là hắn đã đi khỏi chăng? Tôi lên đường theo hướng Grimm Road, cách thành phố hai mươi cây số về phía Bắc. Lúc này, đêm đã xóa đi hầu hết phong cảnh và trong khi tôi theo con đường hẹp quanh co, hàng loạt cột nhỏ trắng một màu trắng ma quái được trang bị kính phản chiếu, mượn ánh sáng đèn pha xe tôi để chỉ hết vòng cua này đến khúc quanh kia. Tôi có thể nhận ra một thung lũng tối ở một mé đường và những cánh rừng trên sườn dốc ở phía bên kia, và trước mặt tôi, đám bướm đêm, như những bông tuyết bơ vơ, từ bóng tối vật vờ bay ra, lọt vào vòng hào quang sục sạo của tôi. Ở cây số 20, như đã được báo trước, một cây cầu có mái kì cục nuốt lấy tôi một lúc, và qua khỏi đó, một tảng đá quét vôi trắng lù lù hiện ra ở bên phải, và đi thêm một quãng nữa bằng chiều dài của mấy chiếc xe hơi, tôi rời xa lộ, rẽ phải vào con đường rải sỏi dẫn tới Grimm Road. Trong một vài phút, quanh tôi chỉ toàn là rừng rậm, ẩm uớt, tối mịt. Rồi
Pavor Manor
[1], một ngôi nhà gỗ với một tháp nhỏ bên trên, đột hiện giữa một vùng phát quang hình tròn. Những cửa sổ lung linh ánh vàng và đỏ; đường dẫn vào cổng nhà bề bộn những xe hơi, khoảng nửa chục cái. Tôi dừng lại dưới hàng cây và tắt đèn để bình tĩnh suy tính bước tiếp theo. Chắc chắn, vây bọc quanh hắn toàn là tay sai và đĩ điếm. Tôi không khỏi hình dung cảnh hội hè đình đám bên trong tòa lâu đài xập xệ này theo một truyện ngắn đăng trên một trong những tạp chí Lolita thường đọc, “Troubled Teens” (Đám vị thành niên bối rối) - “giao hoan” mơ hồ, một gã đàn ông vẻ hắc ám ngậm xì gà hình dương vật, ma túy, hộ vệ. ít nhất, cũng biết chắc một điều: hắn có ở đây. Tôi sẽ trở lại vào giờ ngái ngủ buổi sáng.

[1] “Pavor”, tiếng Latinh, có nghĩa là sự hoảng sợ, kinh hoàng; “manor”, thái ấp. Nhằm gợi không khí những lâu đài yêu tinh trong các câu truyện cổ tích.

Tôi nhẹ nhàng lăn bánh về thành phố, trong chiếc xe cũ kĩ trung thành của tôi, nó vẫn thanh thản và gần như vui vẻ phục vụ tôi. Lolita của tôi! Vẫn còn đó, một chiếc kẹp tóc của em lăn lóc tận đáy hộc để đồ vặt từ ba năm nay. Vẫn còn đó, dòng lũ bướm đêm trăng trắng do hai ngọn đè pha xe tôi phun vào đêm. Đây đó, những kho lúa vẫn trụ ở ven đường. Vẫn có những người đi xem phim. Trong khi tìm chỗ trọ qua đêm, tôi đi qua bên một rạp chiếu bóng ngoài trời. Trong một vầng sáng như ánh trăng, hoàn toàn huyền hoặc trong sự tương phản với đêm thực tại mênh mông không trăng này, trên một màn ảnh khổng lồ nghiêng nghiêng giữa cánh đồng tối ngái ngủ, một con ma gầy đét giơ một khẩu súng lên, góc nghiêng của cái thế giới đang lùi xa dần kia khiến cả hắn lẫn cánh tay hắn biến thành vũng nuớc rửa bát rung rinh - và một rặng cây chặn đứng cử chỉ vung tay đó.
Mời bạn thảo luận, vui lòng nhập Tiếng Việt có dấu
loadingĐang xử lý