Báo lỗi

Ta Đã Làm Chi Đời Ta

Chương 9 (Cập nhật lúc: 13:01 13/12/2017)
Chọn màu nền
THƠ MÂY, ĐÁNH DẤU MỘT MỐI TÌNH!
Nếu tập thơ “SAY” đã bộc lộ phần nào tâm tư của tác giả trong những giây phút say sưa sảng khoái của cuộc đời, thì ngược lại, tập thơ “MÂY” đã đánh dấu một mối tình đầu tiên đẹp như trăng, như thơ giữa thi nhân, công tử Hà Thành với nàng Mây, một thôn nữ, ngây thơ trong trắng, có giọng hát tuyệt vời của Làng Dương Ổ.
“Phách ngọt đàn say nệm khói êm,
Tiếng ca buồn nổi giữa chừng đêm,
Canh khuya đưa khách lời gieo ngọc,
Mơ gái Tầm Dương thoảng áo xiêm,
Ai lạ nghìn thu xa tám cõi,
Sen vàng như động phiá châu liêm,
Nao nao khói biếc hài thương nữ,
Trở gối hoa lê rụng trắng thềm.”
(Nghe hát)
Chuyện tình của Hoàng huynh đã diễn ra từ những năm đầu thập niên 40, còn gọi là thời kỳ Tiền Chiến, tức chưa xảy ra cuộc tổng khởi nghĩa chống thực dân Pháp xâm lăng vào Muà Thu năm 1945. Lần đầu tiên, vào một buổi chiều tháng 4, năm 1942, Vũ thi sĩ đã theo chân nhà thơ Lê Quân, tức Lê Trọng Quỹ, tác giả thi tập “Thực và Mộng” đến làng Dương Ổ nghe hát Ả Đào. Nơi đây, Lê quân đã lập “phòng nhì” với người đẹp Dương Quí Phi (do chính Lê Quân tự phong), một trang thanh sắc vẹn toàn. Nhân dịp này, Vũ thi sĩ cũng đã bất ngờ được chiêm ngưỡng cảnh “kim ốc tàng kiều”. Nàng Kiều ấy tên là MÂY.
Lần thứ hai, vào tiết tháng Bảy, lúc chập tối, khi vừa hết say rượu, Vũ thi sĩ chợt nhìn thấy nhan sắc của nàng và nghe tiếng hát trong như tiếng hạc bay qua của nàng, thi nhân lại bị sa ngay vào cuộc say vì tình “Má hồng không thuốc mà say!”. Lúc ấy, Vũ thi sĩ đã ứng khẩu ngâm ngay một bài thơ Tứ Tuyệt, ngụ ý riêng tặng giai nhân, nguyên văn như sau:
“Ánh rượu đào trên má đỏ hây,
Tiếng ca tròn với khuôn trăng đầy,
Ngọn cau, trăng cũng tròn theo tiếng,
Tròn não nùng như tuổi của Mây.”
Vâng, tên nàng chính là MÂY!
Đến cuối năm 1942, anh em trong văn giới, nhiều người đã tỏ ra nóng lòng đợi tập thơ MÂY ra đời. Trong số, có cả Xuân Diệu và Cù Huy Cận. Đợi mãi đến mùa Thu năm sau, 1943, tập thơ Mây mới được nhà xuất bản Đời Nay cho ra đời, sau khi đã được họa sĩ Tô Ngọc Vân vẽ bìa và Đinh Hùng vẽ phụ bản. Chẳng hiểu Vân với Mây đã có duyên nợ với nhau như thế nào kể từ khi có mối giao duyên văn tự Hán –Việt, nên cái bìa tập thơ Mây từ ngày đầu tiên đã tạo nên nhiều dư luận bình phẩm. Nhìn bìa thi tập MÂY, ta thấy nhà danh họa Tô Ngọc Vân đã góp hết Mây lại trong một cái bầu rượu nhỏ, như cái bình của Lý Thiết Quài, một trong bát tiên. Cái bình rượu của Lý Thiết Quài lại mập tròn, nằm chếch về một bên, tưởng đâu chính nó cũng đang say, sắp té ngửa, té lăn ra ngoài cái bìa! Trong khi đó con Phượng, biểu hiệu của nhà xuất bản Đời Nay lại nhỏ bé và còm cõi xác xơ khác thường, khác với những con Phượng khác của nhà Đời Nay. Tóm lại, nhìn cái bìa tập thơ MÂY chẳng ai biết nhà xuất bản nào đã in ra nó. Ngược lại, mọi người đều bị cái bình rượu mập thù lù của Lý Thiết Quài đập ngay vào mắt. Nên có người đã đùa dai cho rằng tập thơ MÂY do nhà xuất bản “HỒ LÔ” ấn hành!
Dường như mấy người ấy ngụ ý giễu cợt Vũ thi sĩ cùng phường với nhóm “Xuân Thu Nhã Tập”, gồm một số trí thức lãng mạn đang chủ trương lối thơ “hũ nút” thời bấy giờ.
Như trên tôi đã nói tập thơ MÂY đã đánh dấu một mối tình đầu tiên, bất thành, giữa thi nhân và nàng thôn nữ thanh sắc vẹn toàn làng Dương Ổ. Lúc đó Hoàng huynh còn trẻ lắm, chưa có gia đình, khi về làng Dương Ổ, nghe hát Quan Họ, Ả Đào với các bạn văn nghệ sĩ, gồm Lê Quân, Nguyễn Bính, Tô Hoài, Đỗ Đức Thu, v.v...đã gặp nàng Mây, cũng còn trẻ lắm. Hai người đã quyến luyến nhau, rồi yêu nhau say đắm. Vũ thi sĩ đã có ý định cưới nàng Mây về làm vợ.
Nhưng tục lệ ở đây kỳ lắm. Nàng Mây tuy còn quá trẻ, nhưng trên danh nghĩa nàng đã “có chồng”, theo tục tảo hôn, do cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy. Dĩ nhiên chồng nàng cũng chỉ là một cậu bé “thò lò mũi xanh ”, con một gia đình nhà nông trong làng. Hai người này trên danh nghĩa đã là vợ chồng, nhưng trên thực tế, họ chưa hề chung đụng gối chăn.
Vũ thi sĩ thực tâm muốn cưới nàng Mây về làm vợ, rồi đem nàng về Nam Định ở với cha mẹ. Nhưng vì phong tục khắt khe của làng Dương Ổ, nàng Mây đã không dám thoát ly gia đình, và cả không dám bước chân ra khỏi luỹ tre làng, nên đành phải nghe lời cha mẹ về với nhà chồng, để lại cho Vũ thi sĩ một vết thương lòng khá sâu đậm!
Trong tập thơ MÂY, còn gọi là thơ SAY, ta đã nghe tiếng lòng của thi nhân thổn thức lúc phân ly, qua bài “CHÉN RƯỢU ĐÔI ĐƯỜNG”:
Nhưng đêm nay dịu quá,
Không trăng có hề chi,
Say sưa tràn miệng cốc,
Cùng nâng hãy uống đi,
Trùng lai đâu dễ hẹn kỳ,
Đò ngang một chuyến chắc gì mai sau.
Tối nay còn họp mặt,
Ngày mai đã cách xa,
Vàng xanh thay sắc cỏ,
Tươi úa đổi màu hoa,
Đường trần muôn vạn ngã ba,
Nhớ nhung muốn gặp biết là có nên?!
Giờ đây chia đôi ngả,
Sông nước càng tiêu sơ,
Hồn men cay như quế,
Hồn men đắng như mơ,
Đắng cay này chén tiễn đưa,
Uống đi uống để say sưa ngập lòng.
Cạn đi và lại cạn,
Say rồi gắng thêm say,
Bao nhiêu mơ mà đắng,
Bao nhiêu quế mà cay,
Đắng cay trút xuống bàn tay,
Nắm tay lần chót thuyền quay mũi rồi!...
VÀI NÉT TIỂU SỬ.
Theo tư liệu nữ sĩ Thục Oanh, chúng tôi được biết Hoàng huynh vốn ra đời năm 1916, tại Nam Định. Nhưng chính quán thuộc làng Phù Ủng, tỉnh Hưng Yên (BV). Thuở nhỏ ông đã theo học ở Lycée Albert Sarraut, Hà Nội. Sau khi đã thi đậu bằng Tú Tài Pháp, ông theo học Luật Khoa. Nhưng chỉ một năm sau, ông bỏ học, ra làm việc cho sở Hỏa Xa Đông Dương. Nhờ có thời kỳ làm việc cho Hỏa Xa, Vũ thi sĩ đã quen biết gần như đủ mặt các viên chức trong ngành, nên thỉnh thoảng nổi máu giang hồ vặt, ông vẫn có thể cùng các bạn văn nghệ đáp xe hỏa đi đây đó miễn phí!
Tôi còn nhớ, thời bấy giờ các ngành: Lục Lộ, Quan Thuế, Bưu Điện, và Hỏa Xa thuộc chánh phủ Bảo Hộ Pháp, có thể hoán chuyển phục vụ khắp 3 xứ Việt-Miên-Lào. Riêng ngành Hỏa Xa, còn có lệ: mỗi năm gia đình vợ con được dùng xe lửa, có ”Wagon” riêng, đi nghỉ hè trong nước một lần không phải mất tiền vé tàu. Vì thân phụ tôi cũng đã từng phục vụ trong ngành hỏa xa ở Hà Nội, nên hồi còn bé, hằng năm tôi đã được đi nghỉ hè như thế, và đã vào Sài Gòn, rồi định cư luôn trong Nam trước 1954 khá lâu.
Nhưng chẳng bao lâu sau, ông cũng rời ngành Hỏa Xa, dấn thân vào con đường thi nghiệp và dạy học tư. Di cư vào Nam, thi sĩ họ Vũ tiếp tục sinh nhai bằng nghề dạy học, và làm thơ, mãi cho đến ngày miền Nam rơi vào tay CSBV.
Bây giờ, ở hải ngoại, tôi viết bài này để nhắc lại đôi chút kỷ niệm đơn sơ với một vị huynh trưởng trên cả hai lãnh vực giáo dục và văn hóa. Hoàng huynh lại còn là cựu chủ tịch Văn Bút Việt Nam, mà tôi đã là hội viên từ ngày hội mới thành lập, tháng 11, năm 1957, tại VN.
Nay, ở hải ngoại, Văn Bút VN Hải Ngoại vốn là hậu thân của hội Văn Bút VN, đang chìm đắm trong nghịch cảnh chia rẽ, vàng thau lẫn lộn, chân giả khó phân, trật tự cương thường đảo lộn, tôi viết bài này, với tư cách cựu chủ tịch của VBVNHN, như thắp lên một nén hương lòng, thành khẩn gửi đến Hoàng huynh nơi Bồng Lai tiên cảnh, cầu xin anh linh người quá vãng độ trì cho VBVNHN vượt qua được mọi khó khăn nan giải. Tâm thành chí nguyện!
Từ Quyên
Vũ Hoàng Chương: Nho sinh ngất ngưởng thời Tây học
(TPO) - Tuy Vũ Hoàng Chương tài năng không hề thua sút những vì sao Thế Lữ, Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử, Nguyễn Bính... trên bầu trời Thơ Mới, nhưng ông lại ít được nhắc tới một cách đáng ngạc nhiên.
Có lẽ vì người ta đọc thơ ông không chỉ bằng “con mắt thơ”, mà còn bằng, và chủ yếu bằng con mắt của đạo đức, con mắt của lề thói, con mắt của đủ thứ cấm kị xã hội?
Có lẽ bởi thế mà vào cuối đời, cay đắng tổng kết cuộc đời mình, Vũ Hoàng Chương đã phải cất một tiếng than dài: “Ta đã làm chi đời ta” (tên tập hồi ký của ông)?
Người cũ trong thơ mới
Trong bài khái luận “Một thời đại trong thi ca” mở đầu tập “Thi nhân Việt Nam”, Hoài Thanh đã tạm chia Thơ Mới 1932 - 1941 thành ba dòng: dòng chịu ảnh hưởng Pháp, dòng chịu ảnh hưởng thơ Đường và dòng “có tính cách Việt Nam rõ rệt”.
Nhìn về đại thể, đó là cách chia tương đối hợp lý. Nhưng ở một đôi chỗ tiểu tiết, nhà phê bình tiền bối lại không khỏi khiến kẻ hậu bối viết bài này phải băn khoăn, việc xếp Vũ Hoàng Chương vào dòng Việt chẳng hạn.
Thơ của tác giả “Thơ say” liệu có gì chung với thơ của tác giả “Mười hai bến nước” (Nguyễn Bính, cũng được Hoài Thanh xếp vào dòng Việt)? Vì lý do gì lại không thể coi Vũ Hoàng Chương như một thi nhân thuộc dòng ảnh hưởng thơ Đường, trong khi dấu ấn của Đường thi trong thơ ông quá đậm nét?
Gạt những thắc mắc ấy sang một bên, ít nhất thì việc Hoài Thanh không xếp Vũ Hoàng Chương vào dòng thơ chịu ảnh hưởng Pháp cũng cho tôi can đảm để khẳng định cái cảm nhận ban đầu của mình: Vũ Hoàng Chương là một người cũ trong Thơ Mới.

Vừa bước chân vào cửa, tôi đã trông thấy một gã nho sinh đang ngất ngưởng ngồi trên chiếc ghế bành đen bóng. Tôi ngỡ ngàng trước lối phục sức kỳ dị của Hắn: mình mặc áo gấm trần, đầu không khăn, chân mang guốc. Trông mặt Hắn có vẻ vừa kiêu hãnh, cao kỳ, vừa có vẻ thơ ngây, chất phác
”.
Trên tạp chí “Văn” số 150, Dương Thiệu Mục đã phác họa chân dung Vũ Hoàng Chương bằng những nét như vậy từ ký ức của lần gặp mặt đầu tiên giữa hai người.
Hãy thử tưởng tượng xem: ở thời buổi mưa Âu gió Mỹ đầy trời, khi trang phục của người thanh niên có học sống nơi thành thị phổ biến là veston, mũ phớt, giày giôn, thì cái hình ảnh “mình mặc áo gấm trần, chân mang guốc” của Vũ Hoàng Chương há chẳng khiến người ta thấy ngỡ ngàng hay sao? Nó giống như dư ảnh của một thời xưa cũ còn lưu lại giữa đương thời vậy.
Thật khó tin nếu chúng ta chú ý tới sự kiện là Vũ Hoàng Chương từng tốt nghiệp trường Albert Sarraut, từng theo học đại học luật Hà Nội, rồi đại học toán, nghĩa là ông là người Tây học đến chân răng kẽ tóc!
Sự hiện diện của Vũ Hoàng Chương trong Thơ Mới cũng vậy. Không trình diện làng thơ bằng các thi phẩm mang hình thức toàn luật thi và tuyệt thi như Quách Tấn trong tập “Mùa cổ điển”, nhưng thơ của Vũ Hoàng Chương vẫn gợi lên nơi người đọc cái cảm giác xưa cũ, cái cảm giác được hít thở, được ngâm tẩm trong một bầu khí “đặc” Đông phương.
Cảm giác ấy nảy sinh từ nguồn thi liệu được ông sử dụng. Chúng tuyệt không vướng một chút dấu vết phương Tây. Nhưng, xin được nói ngay, chúng cũng khác xa với Nguyễn Bính: thi liệu trong thơ Nguyễn Bính chủ yếu lấy từ dân gian, mang màu sắc dân gian, có tính chất bình dị; còn thi liệu trong thơ Vũ Hoàng Chương lấy từ lịch sử và văn chương bác học Trung Hoa cổ điển, chúng được nhuộm bởi một gam màu cổ kính, sang trọng.
Nhà thơ của lạc loài, cô đơn
Trong bài “Phương xa”, Vũ Hoàng Chương đã viết, như một tuyên ngôn về tình thế tồn tại và căn bệnh tinh thần của thế hệ mình: “
Lũ chúng ta lạc loài dăm bảy đứa/ Bị quê hương ruồng bỏ giống nòi khinh/ Bể vô tận xá gì phương hướng nữa/ Thuyền ơi thuyền theo gió hãy lênh đênh/ Lũ chúng ta đầu thai nhầm thế kỷ/ Một đôi người u uất nỗi chơ vơ/ Đời kiêu bạc không dung hồn giản dị/ Thuyền ơi thuyền xin ghé bến hoang sơ
”.
Nếu điều đó không đúng với tất cả hoặc không đúng với số đông, chí ít, nó đúng với riêng ông. Vũ Hoàng Chương là người luôn sống với hiện tại trong cảm thức chơ vơ, lạc loài, cô đơn, bị ruồng bỏ, chia cắt.
Ông tồn tại ở đây, lúc này, nhưng luôn tin rằng bản thể chân thực của mình là ở trong một không gian khác, trong một thời gian khác. Và ông không ngừng băng qua giới hạn giữa “ở đây, lúc này” với “ở kia, lúc khác” để tìm kiếm cái bản thể ấy và hợp nhất với nó bằng tất cả các phương tiện có thể được: bằng Thơ, bằng Mơ, bằng Dục Tình, bằng Say (say rượu, say nàng tiên Nâu - đây chính là lý do khiến cho không ít phê bình gia đạo mạo đã coi Vũ Hoàng Chương như một điển hình của kiểu thi nhân trụy lạc).
Không khó để nhận thấy trong thơ Vũ Hoàng Chương hai loại “vương quốc” đối lập với “chốn lưu đày” (theo tên một tập truyện của nhà văn Pháp A.Camus: Vương quốc và chốn lưu đày). Loại vương quốc thứ nhất là Cõi tiên, là Thiên giới, ở đó bản thể chân thực của ông là Người tiên, việc ông có mặt tại chốn lưu đày được hình dung như chuyện tiên nhân bị biếm trích hoặc trót dại, sảy chân.
Bài “Tối tân hôn” trong tập “Thơ say” nói rõ điều này: “
Do dự mãi, đêm nay rời xứ Mộng/ Ta chiều em, bỏ cánh lại cung Trăng/ Lén bước xuống thuyền mây chờ cửa động/ Vội vàng đi, quên giã biệt cô Hằng... Hai xác thịt lẫn vào nhau mê mải/ Chút thơ ngây còn lại cũng vừa chôn/ Khi tỉnh dậy bùn nhơ nơi hạ giới/ Đã dâng lên ngập quá nửa linh hồn”.
Bài “Động phòng hoa chúc” cũng vậy
: “Lìa cõi Mộng, giong thuyền qua bến Tục/ Đoái hoài chi, băng tuyết sẽ vùi chôn/ Em khao khát dìu anh tìm hạnh phúc/ ở men nồng chăn ấm tối tân hôn... Thôi hết nhé, thỏa đi niềm rạo rực/ Từ cung trăng rơi ngã xuống trần gian/ Ta sắp uống bùn nhơ và sự thực/ Sẽ mai đây giầy xéo giấc mơ tàn
”.
Trong thơ ca phương Đông, việc thi nhân tự coi mình là đấng trích tiên chí ít cũng đã thấy ở Lý Bạch (Trung Quốc) và Tản Đà (Việt Nam), nên Vũ Hoàng Chương không phải là một biệt lệ. Nhưng điều ấy liệu đã đủ để làm nên ở ông hình hài của một người cũ trong Thơ Mới?
Có lẽ phải tìm nó chủ yếu ở loại vương quốc thứ hai: đất nước Trung Hoa trong thời gian quá khứ miên viễn, trong bảng lảng khói sương của những điển tích văn chương đã làm nên niềm tự hào cho nền văn học đóng vai trò hạt nhân của vùng văn học chữ Hán.
Cái bản thể đích thực của Vũ Hoàng Chương, cái đích cho sự tìm kiếm không ngưng của ông nằm ở đó. Nó không phải là một nhân hình cụ thể. Phải chăng, nó chỉ là một ý niệm, ý niệm về thời quá vãng huy hoàng của một phương Đông ngủ quên khi trên bầu trời đang vần vũ những mưa Âu gió Mỹ?
Trong thơ Vũ Hoàng Chương, không ít bài diễn tả cái trạng thái tác giả xuất hồn xuyên thời gian trở về với “thuở trước”, với “nghìn thu”, với “vạn cổ”. Và khi ấy, lịch sử và văn chương cổ điển Trung Hoa đã trở thành nguồn thi liệu vô tận để ông múc lấy, lấp đầy cái thiếu hụt chống chếnh trong tâm cảm hiện tại của mình.
Đây là khoảng khắc khi ông viếng mộ một tình nương: “
Ta chẳng biết, nhưng mà ai biết được/ Chân dừng lại hồn trôi vào thuở trước/ Tưởng chừng nghe thánh thót lệ người xưa/ Hán Minh Phi muôn dặm đất Thuyền Vu/ Tiếc cung điện Trường An còn nức nở/ Ai vụng tính để cung đàn lỡ dở/ Ai quên lời sai hẹn lúc chia tay/ Mắt mòn trông, ải Nhạn khói mây đầy
” (Bạc tình).
Và đây, khi thi nhân cuồng nộ trong nỗi hận tình như một gã trai tuổi đôi mươi, bất kể nỗi hận tình ấy đã có quãng thời gian mười năm xoa dịu: “
Men khói đêm nay sầu dựng mộ/ Bia đề tháng Sáu ghi Mười hai/ Tình ta, ta tiếc! Cuồng, ta khóc/ Tố của Hoàng, nay Tố của ai?/ Tay gõ vào bia mười ngón dập/ Mười năm theo máu hận trào rơi/ Học làm Trang Tử thiêu cơ nghiệp/ Khúc Cổ bồn ca gõ hát chơi/ Kiều Thu hề, Tố em ơi/ Ta đương đốt lửa tơi bời Mái Tây/ Hàm ca nhịp gõ khói bay/ Hồ, xừ, xang, xế bàn tay điên cuồng
” (Mười hai tháng sáu - thi phẩm có thể xếp vào hạng nhất trong thất tình thi Việt Nam tự cổ chí kim).
Và đây nữa, khi chập chờn mộng ảo trong hương nha phiến, ông đã mở lỏng khóa linh hồn để nghe thấy một “Hơi tàn Đông á”: “
Đáy cốc bao la vạn vực sầu/ Ngai vàng Mông Cổ ngự đêm nâu/ Hãy nghe bão táp trong cô tịch/ Vó ngựa dân Hồi dẫm đất Âu/ Thuyền chiến nằm mơ cuộc viễn chinh/ Buồm neo rời rạc bến u minh/ Đâu đây quằn quại trong làn khói/ Lớp lớp uy nghi Vạn Lý thành
”.
Nâng nỗi chán chường lên thành nghệ thuật
Là một thi nhân mang nặng căn cốt phương Đông, Vũ Hoàng Chương không thể không biết đến Lý Bạch, nhà thơ lớn của thi ca Trung Hoa thời Thịnh Đường.
Ông hâm mộ Lý Bạch, đã đành, ông còn từ huyền thoại họ Lý say rượu lao xuống sông vớt trăng: “
Từ thuở chàng say ôm vũ trụ/ Thu trong bầu rượu một đêm trăng/ Nhảy xuống muôn trùng sông quạnh quẽ/ Đem theo chân hứng gửi cô Hằng
” mà phác lên huyền thoại của chính mình: “
Ngựa ơi, hãy nghỉ chân cuồng khấu/ Cho thỏa lòng ta nỗi khát khao/ Ta chẳng mò trăng như Lý Bạch/ Nhưng tìm thi hứng mất đêm nao/ Tình hoa thuở trước xô về đọng/ ở phiến gương vàng một tối nay/ Ta lặng buông thân trời lảo đảo/ Mơ hồ sông nước choáng men say
” (Chân hứng).
Một sự tự ví, hay phải chăng nhà thơ Việt Nam đã nhận ra ở chính mình và bậc tiền bối Trung Hoa tính đồng dạng về mẫu hình nhân cách, tính trùng lặp về tần số của nhịp tim và sự gần gũi bất chấp khoảng cách thời gian?
Tương tự như vậy, Vũ Hoàng Chương bị ám ảnh không thôi bởi các danh tác của văn chương cổ điển Trung Hoa. Chúng như một quá vãng thân thuộc đối với ông, lại như một thế giới tồn tại song song với thế giới ông đang sống và cho phép ông xuất nhập tùy ý.
Ta có thể “đọc” thấy dấu vết của hàng loạt danh tác văn chương Trung Hoa cổ điển trong thơ Vũ Hoàng Chương. Nhưng đậm hơn cả, phải là “Tỳ bà hành” của Bạch Cư Dị, khúc ca lãng mạn về cuộc gặp nơi Tầm Dương giang đầu giữa một ông quan bị biếm trích và một kỹ nữ ở buổi xế chiều của nghề hát xướng.
Vũ Hoàng Chương có ít nhất ba thi phẩm tạo được mạch liên thông với “Tỳ bà hành”, đó là “Đà giang”, “Nghe hát” và “Dựng”. Nếu ở hai bài thơ sau (có lẽ được sáng tác trong hoặc ngay sau hai cuộc đi hát.
Trong hồi ức của nhiều người cùng thời thì Vũ Hoàng Chương hay đi hát và rất sành âm luật) “ý Tầm Dương” chỉ nảy sinh với tác giả khi đào nương cất tiếng hát “Tỳ bà hành”, thì điều đó là không cần thiết ở bài “Đà giang”. “
Cắm thuyền sông lạ một đêm thơ/ Trăng thượng tuần cao sáng ngập bờ/ Đâu đó Tầm Dương sầu lắng đợi/ Nghe hồn ly phụ khóc trên tơ
”.
[Chúc bạn đọc sách vui vẻ tại
www.moot.vn
- gác nhỏ cho người yêu sách.]
Không mượn tới bất cứ một sự “môi giới” nào hết, sầu Tầm Dương là mối sầu khởi phát tự trong lòng thi nhân, là sự chiêm nghiệm đến đáy của một kẻ “đồng hội đồng thuyền” với những người “bên lề” thuở trước.
Hay nói đúng hơn, sầu Tầm Dương chính là miền tâm cảm để thi nhân nhận ra mình qua bao lớp sóng thời gian từ quá khứ đến hiện tại. Vì thế mà Vũ Hoàng Chương mới có thể viết: “
Cánh rượu thu gần vạn dặm khơi/ Nẻo say hư thực bóng muôn đời/ Ai đem xáo trộn sầu kim cổ/ Trăng nước Đà giang mộng Liêu trai
” (Đà giang).
Tôi muốn dùng lại một nhận định của nhà nghiên cứu Đỗ Lai Thúy để khép lại bài viết này: “
Biến cái ác (hiểu theo nghĩa triết học) thành cái đẹp, Baudelaire đã tạo nên một tác phẩm có tính chất cách mạng: Những bông hoa của cái ác. Nâng nỗi chán chường lên thành nghệ thuật, đó là đóng góp, chí ít cũng ở Việt Nam, của Vũ Hoàng Chương, tính chất “suy đồi” (hiểu theo nghĩa nổi loạn) và hiện đại của thơ ông.
” (Mắt thơ, bài “Vũ Hoàng Chương, đào nguyên lạc lối”, trang 148. NXB Văn hóa thông tin, 2000.)
Hoài Nam
Thực hiện bởi
nhóm Biên tập viên Gác Sách:
Chim Cụt – Kaitoukiddo1412 - Tiểu Bảo Bình
(Tìm - Chỉnh sửa - Đăng)
Mời bạn thảo luận, vui lòng nhập Tiếng Việt có dấu
loadingĐang xử lý