Báo lỗi

Trong cơn gió lốc

Chương 22 (Cập nhật lúc: 12:51 13/12/2017)
Chọn màu nền
Chương hai mươi hai

1

Cuộc hỏi cung tên tướng Trần Văn Cẩm và tên đại tá Vi Văn Bình kéo dài tới ba tiếng đồng hồ khiến trung đoàn trưởng Thuần mệt nhừ người. Tên Cẩm đã trả lời ông khá đầy đủ và tỉ mỉ những điều mà ông muốn biết xung quanh cuộc rút chạy vừa qua của quân đoàn 2 ngụy. Càng đi sâu vào tìm hiểu diễn biến của cuộc rút chạy, trung đoàn trưởng phát hiện thêm nhiều điều lý thú. Đến khi một mình lững thững đi dọc hành lang trở về phòng nghỉ, ông vẫn tủm tỉm cười và lẩm nhẩm một mình:

- À thì ra vậy. Thảo nào, thú vị thật!

Tướng Cẩm đã kể khá cụ thể về những cuộc tranh luận của bọn tướng tá ngụy sau khi bị mất Buôn Mê Thuột. Khi kể đến những đoạn sôi nổi nhất, Cẩm như quên cả vị trí lúc ấy của mình - là một tên tù binh - hắn cũng vung tay, vung chân, đôi mắt lấp lóe sau cặp kính cận, những thớ thịt trên mặt rung rung. Theo Cẩn, thì cuộc tranh luận về nguyên nhân thất thủ Buôn Mê Thuột là một cuộc cãi vã “chợ búa” nhất kể từ khi thành lập quân đoàn 2 ngụy tới nay. Tướng Phú chửi tướng Tất là “đồ ăn hại” vì đã điều động các lực lượng biệt động quân quá chậm trễ và “không hữu hiệu” nên không chi viện kịp thời cho Buôn Mê Thuột. Tướng Tất nói bóng gió chỉ tướng Phú bất tài, leo lên được chức tư lệnh quân khu chỉ vì là “bộ sậu” của tổng thống. Tướng Phú đập bàn, quát Tất như một tên thuộc hạ nhãi nhép. Cẩm đứng giữa giàn hòa và cũng bị tướng Tất chỉ trích về việc cho đổ bộ “nhỏ giọt” sư đoàn 23 xuống khu vực Phước An để làm mồi cho pháo binh và bộ binh quân giải phóng.

Sau đó Cẩm kể về cuộc “dinh tế” của tổng hành dinh tướng Phú. Khi biết nguy ngập, Phú đã lập tức lấy cớ về Nha Trang gặp đại diện của tổng thống để chuồn trước, giao phó toàn bộ việc “tùy nghi di tản” cho Cẩm. Cẩm đã phải gánh trách nhiệm về việc tổ chức “di tản” không thành công. Hắn than rằng: “Nếu không bị quân giải phóng bắt, có lẽ hắn cũng bị ra tòa án binh về tội nướng hết quân binh.”

Cẩm cũng đã trình bày tỉ mỉ về kế hoạch “di tản chiến lược” do tự tay hắn thảo ra. Qua đó trung đoàn trưởng Thuần hiểu rằng, về thực chất bọn địch đã chuẩn bị một cuộc rút lui chiến lược khá quy mô và có tổ chức, có chỉ huy chặt chẽ. Nhưng đến khi bị chặn đánh, binh lính một phần hoang mang, phần vì bấn bíu gia đình, vợ con, của nả, nên đội hình hành quân bị rối loạn, mạnh ai nấy chạy lấy thân; hệ thống chỉ huy trở nên bất lực. Những trận phản kích để mở đường máu đã không mang lại kết quả gì vì không có sự phối hợp chặt chẽ giữa các đơn vị, giữa bộ binh, thiết giáp và pháo binh. Một sai lầm nữa của địch là đã phát động một cuộc rút chạy của cả dân chúng ba thị xã với ý đồ chỉ để lại cho ta những thị xã không người. Nhưng cuộc rút chạy ùn ùn đó của nhân dân đã gây tâm lý hoang mang cực điểm cho binh lính và gây sự ùn tắc ghê gớm dọc đường, không có cách gì chỉ huy nổi.

Sau khi bị mất phần lớn các lực lượng chủ lực ở Cheo Reo, Cẩm chỉ còn nắm được một vài đơn vị biệt động và thiết giáp tháo chạy được về Củng Sơn. Tới đây, Cẩm cho cụm lại thành một cụm, vừa để chờ thông đường, vừa hy vọng đón thêm “từng mảnh” những đơn vị tan rã ở Cheo Reo chạy về.

Đường số 7 từ đoạn này trở thành bị du kích Phú Yên khống chế mạnh, phần lớn cầu cống đã bị đánh sập, các đoạn đường xung yếu đều đã có du kích và bộ đội địa phương chốt chặn. Cẩm ra lệnh cho công binh làm gấp một chiếc cầu phao vượt sông Đà Rằng ở cuối quận lị và ủi một con đường đất từ Sơn Hòa về Tuy Hòa để tháo chạy. Đến đây là chỗ tuyệt lộ. Hắn đành bỏ các binh tướng mà tháo chạy về Tuy Hòa để nằm thở. Nhưng hắn chưa kịp hoàn hồn để mang cái thân về trình diện tướng Phạm Văn Phú thì quân giải phóng đã ập tới.

Bây giờ, hắn ngồi đó, gương mặt phì nộn phị xuống vì ảo não và chán chường. Hắn chính là dấu chấm hết của quân đoàn 2 ngụy.

... Giữa cuộc hỏi cung, tham mưu trưởng Sự đã mang cho trung đoàn trưởng Thuần một bức điện. Đó là mệnh lệnh hành quân của sư đoàn gửi cho trung đoàn 6. Như vậy là nhiệm vụ mới đã bắt đầu. Ông thầm vui mừng khi biết trong chiến dịch tới, sư đoàn sẽ tác chiến ở một chiến trường mới, chiến trường dẫn tới hang ổ cuối cùng của bọn bán nước. Đọc xong mệnh lệnh, ông liền triệu tập cán bộ chủ chốt các tiểu đoàn, các đơn vị trực thuộc và chủ trì các ngành của ba cơ quan trung đoàn, tới họp vào bảy giờ tối nay để triển khai nhiệm vụ mới.

Đã gần năm giờ. Ông bồn chồn đi lại trong phòng. Không rõ mình mong đợi điều gì? Một lát sau ông mới hiểu rằng mình đang mong tin vợ con. Quái thật! Má con hắn mải mê công việc tới mức nào mà không ghé thăm ông lấy một lát!

Ông mỉm cười, đi lại đầu giường, mở ba lô lôi ra một khẩu súng ngắn còn mới nguyên. Đó là món quà ông dành cho Thục cùng với chiếc đồng hồ ORIENT của ông. Còn má hắn thì ông đã có một món quà đặc biệt đây rồi. Đó là hai mét vải lụa, quà của Bác Hồ tặng cho các cán bộ miền Nam có thành tích xuất sắc từ năm 1965. Khi đi chiến trường ông vẫn luôn mang theo đề phòng đợi dịp này. Hai mét vải lụa được bọc lại, gắn kín trong một chiếc túi ni-lông. Mấy năm nay chưa một lần ông mở ra coi vì sợ hơi nước ngấm vào, lụa sẽ mốc.

Ông bày tất cả những thứ đó lên bàn, ngồi ngắm một lát. Chợt ông giật mình nhìn ra cửa, đứa nào bất chợt xộc vô nhìn thấy, nó lại cười cho.

Ông vội đứng dậy, đi khép cửa và mỉm cười một mình.

2

Buổi tối, trung đoàn trưởng đang phổ biến mệnh lệnh hành quân cho cán bộ các đơn vị thì đồng chí công vụ của ông tới xin gặp trung đoàn trưởng có việc gấp.

Phổ biến mệnh lệnh xong, ông giao lại cho chính ủy làm tiếp phần kế hoạch cụ thể và phổ biến công tác chính trị trong hành quân chiến đấu đường dài rồi trở về phòng của mình để gặp Tám Thế.

Linh tính như báo cho ông biết chuyện chẳng lành. Ông bước hụt mấy lần. Tới cửa phòng, ông ghé mắt vào và thấy Tám Thế đang chắp tay sau lưng đi đi lại lại, vẻ nghĩ ngợi điều gì. Ông đặt tay lên nắm đấm cửa mấy lần nhưng đều rụt tay lại. Tim ông đập dồn. Ông có cảm tưởng chỉ cần mình mở bung cánh cửa kia là tai họa sẽ ập đến. Nhưng cuối cùng ông cũng phải từ từ mở cửa và bước vào nhà.

Tám Thế giật mình quay lại. Vừa trông thấy ông, Tám Thế đứng sững lại, mặt tái nhợt. Tám Thế nói điều gì đó nhưng tai ông đã ù lên, chân tay ông bủn rủn... Ông vội quờ quạng, huơ tay ra trước mặt như xua đuổi điều bất hạnh kia và nghẹn ngào thốt lên mấy tiếng đứt quãng:

- Thôi!... Đừng... đừng... nói nữa... chú Tám.

Rồi ông loạng choạng bước tới, gieo mình xuống giường.

Toàn thân ông lạnh toát nhưng trong ngực ông bỗng nóng ran lên. Ông thở khò khè, nặng nhọc, môi ông run lên, mấp máy mấy tiếng gì đó. Hình như ông vừa gọi tên Thục. Tám Thế vội chạy tới bên giường ông, cuống quýt sờ nắn rồi kêu toáng lên.

Hình như ông đã thiếp đi một lúc. Trong khi nửa tỉnh nửa mê, ông chỉ nghe được những tiếng lào thào, đứt quãng của Tám Thế.

- ... Bị thương nặng... đánh chiếm nhà tù... giải phóng... đưa về bệnh viện... chị Tư không cho báo tin... cháu hy sinh... tám giờ... mồ yên mả đẹp...

Đột nhiên ông nhỏm dậy, nhìn chằm chằm vào Tám Thế và hét lên một tiếng “Thục!” rồi nằm vật xuống giường, ngất lịm đi.

Khi ông tỉnh dậy thì đã thấy xung quanh đông nghịt những người. Đồng chí y sĩ đang loay hoay tiêm thuốc cho ông. Cậu công vụ của ông thút thít khóc. Chính ủy Tâm ngồi bên mép giường đang cầm chiếc khăn ướt dấp lên trán ông. Những người khác im lặng đứng xung quanh. Ông nhận ra đủ mặt các tiểu đoàn trưởng và chính trị viên các tiểu đoàn, anh chủ nhiệm chính trị, anh trợ lý tác chiến và một số cán bộ trong sở chỉ huy... Ông khẽ xua tay, nói với mọi người:

- Tôi... không sao đâu. Các đồng chí về đi. Chuẩn bị tốt để... ngày mai... ngày mai ta hành quân...

Chính ủy cũng ra hiệu cho mọi người lui ra. Khi trong phòng chỉ còn lại chính ủy và Tám Thế thì ông đã tỉnh hẳn. Nhưng khi đã hoàn toàn tỉnh táo ông mới thấm thía nỗi đau của mình. Đôi vai ông cứ rung lên, rung lên từng đợt. Chính ủy ngồi ngây như tượng. Ông cũng đau xót như mọi người nhưng lúc này ông cần phải cứng rắn hơn. Bởi vì trung đoàn trưởng đang tựa vào ông.

Ông im lặng chịu đựng vì không tìm được lời để an ủi người bạn chiến đấu của mình. Không lời lẽ nào tả xiết nỗi đau xót của anh ấy. Sau hơn hai chục năm trời đằng đẵng nhớ mong, anh ấy vừa đưa tay ra nắm lấy hạnh phúc thì lại bị bàn tay ác quỷ của kẻ thù giật mất. Trên trái đất này có bao nhiêu người cha phải đau khổ như anh ấy?

Họ ngồi yên lặng bên nhau một lúc lâu. Một lát sau, trung đội trưởng mới quay sang hỏi Tám Thế:

- Nhà tôi sao chú Tám?

Tám Thế lắc đầu:

- Chị Tư cực quá anh ơi! Chỉ chết đi sống lại mấy lần. Ai ngó thấy cũng thương tâm. Nhưng chị Tư quả thiệt là một người mẹ có nghị lực. Chị nhất định không cho gọi anh về trước khi chôn cất cháu. Đến giờ chị đã tỉnh táo và khi tui đi, chị đã đi họp với Ủy ban quân quản thị xã. Không hiểu chị lấy đâu ra sức lực?

Đợi cho Thuần tạm nguôi, chính ủy liền đặt vấn đề:

- Anh Thuần này... Đằng nào thì điều đó cũng đã xảy ra. Cháu đã hy sinh rất anh dũng. Điều đó đã an ủi chúng ta đôi phần. Bây giờ chúng ta phải nghĩ tới người còn sống. Phải nghĩ đến trái tim người mẹ. Anh thu xếp rồi theo chú Tám về dưới ấy với chị Tư đi. Lúc này chị ấy rất cần có anh ở bên. Công việc ở đơn vị đã có tôi và anh Sự lo lắng chu toàn. Tôi đã bảo Sự chuẩn bị xe cho anh rồi.

Nghe nói đến chuyện về gặp vợ, trung đoàn trưởng bàng hoàng như bị điện giật. Ông vội ôm lấy mặt rên rỉ:

- Thôi! Tôi van các anh. Tôi không đủ nghị lực để nhìn thấy nỗi đau khổ tuyệt vọng của nhà tôi nữa. Để khi nào cả hai tạm nguôi đi đã.

Chính ủy im lặng, trầm ngâm suy nghĩ hồi lâu rồi chậm rãi nói:

- Anh nghĩ vậy e không đúng đâu, anh Thuần. Hai mươi mốt năm xa cách anh, bao nhiêu lần chị ấy gặp tai họa, bao nhiêu lần chị ấy đã một mình gánh chịu xót đau. Hết ba má đến các chị, các em, các anh bị giặc giết. Bấy nhiêu tang tóc chị ấy đều phải âm thầm chịu đựng một mình. Bây giờ có anh, tai họa này lớn quá, anh phải cùng với chị ấy chia sẻ chứ. Anh chị đều là Đảng viên Cộng sản, đều có nghị lực, nếu biết tựa vào nhau an ủi động viên nhau thì sẽ nhẹ đỡ hơn đi được phần nào đau khổ. Anh không thể yên lặng ra đi được. Vì như thế là anh chạy trốn đau thương chứ đâu phải anh dám dũng cảm chấp nhận sự thật đau thương ấy và cùng chị ấy chia sẻ.

Trung đoàn trưởng như sực tỉnh. Ông ngồi ngây ra một lúc rồi thở dài:

- Anh nói phải, anh Tâm ạ.

Chính ủy ngồi xuống bên trung đoàn trưởng, đặt tay lên vai ông và ân cần nói tiếp:

- Tôi tin ở nghị lực của anh, anh Thuần ạ. Hãy dũng cảm mà chịu đựng. Có như vậy chúng ta mới tiếp tục chiến đấu được.

Trung đoàn trưởng xiết chặt lấy bàn tay chính ủy:

- Hãy tin ở tôi, anh Tâm ạ. Tôi có đủ nghị lực. Nhưng... quả thực, tôi không thể ngờ. Nỗi đau này lớn quá, bất ngờ quá. Nghĩ mà tội cho nhà tôi...

Nói xong những lời ấy, trung đoàn trưởng lại nghẹn ngào. Ông vội đứng phắt dậy, nói với Tám Thế:

- Ta chuẩn bị đi thôi, chú Tám.

Lát sau, trung đoàn trưởng, Tám Thế và hai chiến sĩ cảnh vệ ra khỏi nhà. Một làn gió đột ngột ào tới khiến trung đoàn trưởng khẽ rùng mình. Ông bước đi lảo đảo, cái lưng như còng hẳn xuống. Chính ủy vội bước tới, đi sát bên cho trung đoàn trưởng vịn vào vai mình, bước ra xe.

Đêm cuối tháng. Trời tối đen như mực. Chiếc xe Dép nổ máy, bật đèn, rạch thành hai luồng sáng dài hun hút. Biển động. Tiếng súng bồn chồn, khắc khoải dội vào. Có lẽ nó cứ bồn chồn, khắc khoải như vậy mãi, cho đến khi trời sáng.

3

Trước mặt ông là hơn hai chục ngôi mộ mới. Những nấm đất kia là nơi an nghỉ cuối cùng của những người đã ngã xuống trong trận đánh giải phóng quê hương ông.

“Thục ơi! Con nằm đâu?”

Ông vừa thầm gọi vừa lặng lẽ bước theo Tám Thế và một chiến sĩ của đại đội Thục. Người chiến sĩ ấy cũng gọi ông bằng “ba” và đã kể cho ông nghe tỉ mỉ trường hợp hy sinh của Thục. Thục cũng đã hy sinh anh dũng như tất cả các đồng chí của mình đã ngã xuống trên mảnh đất này. Khi tới đây, nhìn thấy dãy mộ chạy dài trên triền đồi, tự nhiên nỗi đau xót trong lòng ông dịu đi đôi phần. Ông bỗng nghĩ hy sinh trong trận đánh này... Quê họ xa lắm. Biết đến bao giờ thì cha mẹ, vợ con và những người thân yêu của họ mới có cơ hội về đây thăm viếng phần mộ của người đã khuất? Có bao nhiêu bậc cha mẹ ở miền Bắc thân yêu gửi con em mình vào chiến đấu, đang khao khát chờ ngày được vào thăm viếng phần mộ của con em mình đang nằm rải rác ở khắp mọi miền quê của miền Nam ruột thịt? Trong cuộc chiến tranh này, hy sinh của người cha, người mẹ, người vợ ấy mới thực lớn lao. Với tấm lòng của một người mẹ, vợ ông đã thấm thía điều đó ngay từ khi đưa Thục lên nằm đây, với đồng đội của mình. Phải chăng, chính điều ấy đã an ủi người mẹ, tăng thêm nghị lực cho người mẹ vượt qua thử thách đau thương này, để tiếp tục sống và chiến đấu?

Bình minh đang lên. Ngoài kia, mặt biển đang từ màu tối thẫm chuyển sang màu hồng rực. Sóng gió đã dịu đi. Âm vang của những con sóng dội vào bờ biển đã nhịp nhàng, đều đặn hơn chứ không còn khắc khoải, bồn chồn như trong đêm.

- Cháu nằm đây, anh ạ!

Tiếng Tám Thế vang lên. Trung đoàn trưởng chợt sững lại trước ngôi mộ đang còn nghi ngút khói hương. Một nỗi đau dội lên trong lòng khiến ông như bị choáng. Trong khi Tám Thế và đồng chí chiến sĩ cùng đi đốt thêm một nắm hương cắm lên mộ Thục, ông mệt mỏi ngồi bệt xuống, hai tay ôm lấy đầu.

“Con ơi! Ba về thăm con đây.”

Những tiếng ấy vang lên trong lòng nhưng ông không thốt ra được. Cổ ông nghẹn tắc. Hai tròng mắt ông nóng rực. Ông muốn khóc, muốn được khóc như hôm nào khi hai cha con ôm choàng lấy nhau trong niềm hạnh phúc vô biên. Không phải nước mắt đã khô cạn mà hình như nỗi đau thương đã sắt lại, đã kết tinh, lắng đọng vào nơi sâu xa nhất của tấm lòng người cha...

Nó đã nằm đó, trong lòng đất. Gần gũi mà xa xôi biết mấy.

Đôi lúc ông có cảm tưởng như mình đang sống trong một giấc mơ khủng khiếp. Chỉ cần mình choàng tỉnh dậy là mọi việc tốt đẹp như cũ, sẽ không có cái sự thật khắc nghiệt này.

Mệt mỏi, choáng váng, ông vừa thầm gọi tên con vừa xê dịch lại, đặt tay lên nắm đất. Đất ấm như có hơi người.

Cả ba người, không ai nói với ai một lời, họ ngồi lặng lẽ bên mộ Thục rất lâu. Cho đến khi ngoài khơi xa mặt trời đã nhô lên khỏi những vầng sóng xanh, chiếu vào bờ biển những tia nắng rực rỡ, họ mới đứng dậy. Và, vẫn lặng lẽ như thế, trung đoàn trưởng tay cầm một nắm hương lớn đang cháy nghi ngút, đi dọc dãy mộ các liệt sĩ. Đến mỗi ngôi mộ ông đều đứng lại vài giây, cắm lên vài nén hương rồi lặng lẽ bước tiếp. Xong xuôi, ông qua trở lại, đứng trước ngôi mộ cạnh mộ của Thục và cúi xuống đọc tấm bia:

LÊ TRUNG HƯNG

Trung sĩ - tiểu đội trưởng C3-D3-E6- sư đoàn Chiến Thắng.

Quê quán: Lâm Thao - Phú Thọ.

Trung đoàn trưởng chợt ngẩn ngơ. Cái tên đã gợi cho ông nhớ một gương mặt quen thuộc. Đó là một Đảng viên, một tiểu đội trưởng xuất sắc của “Trung đội gió lốc”, một trung đội đánh giỏi của tiểu đoàn 3 mà ông hằng quan tâm. Ông đã nhớ mặt từng chiến sĩ của trung đội này, từ anh trung đội trưởng đứng tuổi luôn vui nhộn đến cậu Ổn trẻ tuổi nghịch ngợm. Đã có một lần, người chiến sĩ nằm dưới nấm mộ này đứng trước hội nghị “Những trận đánh hay, những người đánh giỏi” của trung đoàn, báo cáo sáng kiến táo bạo về việc dùng mìn ĐH.10 đánh tạo hố ở cửa đột phá để đưa hỏa lực lên chi viện cho xung kích đánh chiếm đầu cầu. Sau đó, những lần xuống thăm đơn vị, trung đoàn trưởng thường gặp và nói chuyện với Hưng. Ông mến đức tính khiêm nhường của người chiến sĩ ấy. Trong những lần nói chuyện với Hưng về ngày mai của đất nước, ông vẫn thường nói: “Tương lai thuộc về các cậu. Chúng tớ sắp già cỗi rồi mà trình độ lại có hạn.” Vậy mà bây giờ cậu ấy nằm đây. Bên cạnh là đứa con trai yêu quý của ông. Tự nhiên ông có một cảm giác yên lòng. Thục đã được sống bên những người tốt. Chết, Thục vẫn được ở bên cạnh những người đồng đội đáng tin cậy của mình. Từ nay, dù chiến đấu, công tác ở nơi nào trên đất nước, mỗi khi nhớ về quê hương, ông sẽ có thêm cái góc nhớ thương này. Ở đó, có ngôi mộ của con trai và những người đồng chí thân yêu của nó yên nghỉ. Đồng bào Phú Yên sẽ đùm bọc thương yêu con và đại đội của con như những khi còn sống.

Trời đã sáng rõ. Bóng đêm đã lùi hẳn trước ánh ngày rực rỡ. Bãi cát trắng bên bờ biển bỗng sáng rực lên. Biển đã êm dịu và trở lại với màu xanh muôn thuở của mình. Trung đoàn trưởng quay nhìn ra biển và bỗng như bị lóa mắt trước nắng sớm và ánh phản Quang của mặt biển.

- Ta đi thôi.

Ông nói khẽ với mọi người câu ấy rồi lặng lẽ bước đi. Ông bước chậm rãi không hề quay nhìn trở lại. Mái tóc ông bị gió biển thổi tung lên, rối bời. Tám Thế chợt nhìn lên mái tóc bơ phờ ấy và khẽ thở dài: “Rồi đây tóc anh ấy sẽ bạc đi rất nhanh.” Anh nghĩ thầm như vậy rồi bước nhanh lên, định nói với trung đoàn trưởng Thuần một câu gì đó nhưng lại thôi. Họ cứ lặng lẽ bước đi như vậy cho đến khi xuống tới đường quốc lộ số một.

Một đoàn xe chở bộ đội từ vùng ngoài vào ầm ầm rớt qua. Sau đó là một đoàn xe kéo pháo, những khẩu 122 ly nòng dài phủ lá ngụy trang xùm xòa, lắc lư như ngái ngủ sau một đêm hành quân vất vả. Trung đoàn trưởng đứng bên đường ngắm đoàn xe của đơn vị bạn hành quân qua rồi nói với Tám Thế:

- Mặt trận chuyển vào phía trong rồi.

Tám Thế gật đầu xác nhận và hỏi thêm:

- Có lẽ các anh cũng sắp đi.

Trung đoàn trưởng khẽ gật đầu, đáp nhỏ:

- Chiều nay tôi đi rồi.

Hai người đột ngột im lặng rồi không ai bảo ai cùng ngoái nhìn lên phía nghĩa trang liệt sĩ. Ở đó, bây giờ ánh nắng đã chiếu vào, dãy mộ bỗng hồng rực lên một màu đất đỏ như son.

Trời bỗng lặng gió. Trên đỉnh đồi những cây phi lao đứng im phắc, trơ trọi, nom như những mũi lao dựng ngược.

Đoạn kết

Ngày...

Trước khi rời trung đội để đi điều trị vết thương, anh Mánh đã trao cho tôi cuốn nhật ký này và bảo:

- Mình phải xa trung đội một thời gian. Mình gửi lại cuốn nhật ký này để cậu ghi tiếp những ngày tháng chiến đấu mới của “Trung đội gió lốc” thân yêu của chúng ta. Đừng bỏ một ngày nào không ghi cả, bởi vì trong những năm tháng lịch sử này, mỗi ngày đều diễn ra bao điều kỳ lạ, đáng phải ghi nhớ, Đạt ạ.

Vậy mà mấy hôm nay tôi không được gì. Không phải quên, mà vì hầu như suốt cả ngày, lúc nào cũng ngồi trên xe, không thể mở nhật ký ra mà ghi được. Sau này trở về trung đội, hẳn anh Mánh cũng thứ cho điều đó.

Chúng tôi cùng sư đoàn hành quân ngược trở lại con đường truy kích trong chiến dịch vừa qua. Nhưng lần này không phải bằng đôi chân mà chúng tôi, cả sư đoàn cùng hành quân bằng xe cơ giới. Hàng mấy trăm chiếc xe hơi thu được của địch đủ để cõng cả sư đoàn đi chiến dịch mới. cũng không phải hành quân mò mẫm trong đêm như hôm nào hành quân đuổi địch, mà chúng tôi đi giữa ban ngày. Những đoàn xe nối nhau, nối nhau tưởng như không bao giờ dứt.

Xúc động bao khi trở lại con đường đuổi giặc. Trên đường vẫn còn ngổn ngang dấu vết của cuộc tháo chạy thảm hại nhất trong lịch sử quân ngụy. Những bãi xe cháy ngổn ngang bên đường; những chiếc tăng vỡ toác nằm bẹp dí trên bãi cát sông Ba; những đống quần áo bẩn thỉu, hôi hám; những “bãi giày” ngổn ngang hàng trăm đôi gợi cho chúng tôi nhớ tới những đoàn binh dài dằng dặc bị bắt trong các trận đánh... Đó! Chúng nó đã đã tháo chạy, đã rữa nát như vậy trước sức mạnh của chúng tôi.

Khi vượt qua đèo Tu Na, tất cả chúng tôi bỗng reo lên:

- Thung lũng Cheo Reo đây rồi!

Ôi! Mảnh đất này, cái thung lũng hẻo lánh này từ nay sẽ mãi mãi sống trong lòng chúng tôi. Cuộc kháng chiến thần kỳ của chúng ta đã biến mảnh đất nhỏ bé, xa xôi này thành mảnh chiến công. Chúng tôi bỗng lặng đi khi qua những nơi mà bạn bè mình đã hy sinh. “Thắng ơi! Hùng ơi! Mùi ơi! Hiên ơi! Lý ơi... Chúng mày nằm lại đây nhé. Bọn tao lại đi đây. Đi đánh đuổi chúng nó tới tận hang ổ cuối cùng đây.”

Con sông Ba như duyên dáng hơn, uốn lượn quanh chân đèo như một dải lụa mà thiên nhiên vừa bất chợt tung ra, đón mừng chúng tôi trở lại. Thôi! Chào sông nhé! Con sông đã chạy song song với chúng tôi trên con đường đuổi giặc.

Tới Thuần Mẫn xe của chúng tôi rẽ ngoặt về phương Nam, lao như bay trên đường 14. Ôi! Phương Nam! Chúng tôi đang bay về phương ấy với tốc độ sáu mươi ki-lô-mét một giờ. Cao nguyên bao la trải ra trước mặt. Những rừng cà phê hoa nở trắng xóa. Những rừng cao su mỡ màng, xanh ngắt. Những nương rẫy tốt tươi. Những bản làng thấp thoáng... Mảnh đất này đã gắn bó với sư đoàn chúng tôi biết bao.

Thị xã Buôn Mê Thuột! Xe đi chậm lại như diễu qua một lễ đài. Tất cả chúng tôi đứng dậy kính chào chiến công Buôn Mê Thuột, chiến công mở đầu cho những chiến công trong mùa xuân lịch sử này. Chiến công biểu hiện sự tuyệt vời của nghệ thuật chiến tranh nhân dân Việt Nam. Từ chiến công này chúng tôi bay lên và đã nhìn thấy bóng dáng của ngày toàn thắng.

Qua khỏi Buôn Mê Thuột, quân đoàn tạm dừng, nhường đường cho một quân đoàn bạn từ hậu phương mới hành quân vào. Cơ man nào là xe, là pháo. Bộ đội ta từ hậu phương Xã hội chủ nghĩa vào, quần áo giày mũ còn mới tinh, da dẻ hồng hào, cười nói xôn xao cả một quãng đường. Lính Tây Nguyên nhìn thấy mà phát thèm. Nhưng, ai cũng vui khi nhìn thấy lực lượng mình bỗng lớn mạnh đến như vậy. “Thôi! Phen này thì thằng Thiệu đi đời.” Anh em chúng tôi đều vui vẻ nói với nhau như vậy.

Chính ở đoạn đường này diễn ra một cuộc gặp gỡ kỳ diệu. Sư đoàn chúng tôi đã gặp sư đoàn Chiến Thắng B, sư đoàn “anh em” của mình nằm trong đội hình hành quân bạn. Nhận được nhau, lính hai sư đoàn từ trên xe nhảy xuống rầm rầm, ôm chầm lấy nhau mà reo hò dậy đất. Các đồng chí chỉ huy gặp nhau, nghẹn ngào, vui sướng như anh em ruột thịt.

Khi rời hậu phương đi chiến đấu ở chiến trường, sư đoàn Chiến Thắng chúng tôi đã để lại một “bộ khung” với vài trăm cán bộ. Vậy mà hôm nay đã có cả sư đoàn thứ hai hùng mạnh như ngày nay. Càng nghĩ càng thấm thía hai tiếng Hậu Phương. Nếu không có một hậu phương Xã hội chủ nghĩa thì chúng tôi làm sao có được những quân đoàn chủ lực hùng mạnh như ngày nay? Thử hỏi, có mái nhà nào ở hậu phương thân yêu không có những người con, người em hay người chồng ra trận hôm nay?

[Chúc bạn đọc sách vui vẻ tại
www.moot.vn
- gác nhỏ cho người yêu sách.]

Quân đoàn bạn vẫn hành quân. Xe pháo ùn ùn, bụi đường cuộn lên như một dòng sông mây đỏ rực. Trong khi chờ đợi, chúng tôi tạm giạt sang bên đường thổi cơm chiều trong một khu rừng cao su. Tôi ngồi trên võng vừa ghi nhật ký vừa bồi hồi lắng nghe tiếng đàn tơ-rưng đang phát ra từ chiếc ra-đi-ô của tiểu đoàn trưởng Nguyên. Lại nhớ hôm nào sư đoàn vừa mới đặt chân lên vùng đất đỏ Tây Nguyên này. Chúng tôi đã xúc động đến rơi nước mắt khi được nghe một em gái người dân tộc Gia Rai đứng bên đường gõ đàn tơ-rưng mừng bộ đội chủ lực về. Tôi vẫn nhớ nụ cười nhợt nhạt trên đôi môi tái ngắt vì sốt rét của em. Nhớ tấm lưng trần, hằn lên những dẻ xương sườn cũng đều đặn như những khúc nứa trên cây đàn tơ-rưng. Nhớ câu nói chân thật, giản dị nhưng sâu sắc của em: “Bộ đội chủ lực về, mình sẽ mau hết cái khổ.”

Em gái Tây Nguyên ấy bây giờ ở đâu? Em còn sống để vui đón ngày quê hương giải phóng hôm nay hay đã chết vì bom đạn, bệnh tật, đói nghèo?

Quân đoàn bạn đang dồn đội hình. Những đoàn xe cắn đuôi nhau vun vút lao đi trong mờ bụi đỏ. Chợt các chiến sĩ trên xe cất tiếng hát một bài hành khúc quen thuộc. Ôi! Tôi mong sao nhanh chóng tiếp tục lên đường. Có một cái gì lớn lao lắm, vĩ đại lắm đang chờ đợi chúng tôi ở phía trước.

Các chiến sĩ “Trung đội gió lốc” của tôi, trong khi chờ đợi đã mắc võng lên những cây cao su và ngủ ngon lành. Ngủ đi, các đồng chí thân yêu của tôi. Ngủ đi lấy sức để rồi ta lại hành quân, nhập vào cái dòng sông vô cùng vô tận kia để đi làm một cơn bão lốc cuối cùng.

Tháng 3 năm 1978,

Khuất Quang Thụy.


Thực hiện bởi
nhóm Biên tập viên Gác Sách:
Mai - Fuju - tuongmy
(Tìm - Chỉnh sửa - Đăng)
Mời bạn thảo luận, vui lòng nhập Tiếng Việt có dấu
loadingĐang xử lý